Thứ ba 27/10/2026 16:54
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Sự yếu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

12/10/2020 00:00
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn, là đặc trưng của mọi nền kinh tế, chứ không là đặc thù riêng ở Việt Nam. Chất lượng phát triển DN của một nước thể hiện qua mức độ phát triển từ DNNVV thành DN lớn. Hạn chế lớn nhất ở nước ta l

Cái khó bó cái khôn

DNNVV ở Việt Nam phổ biến hoạt động trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sửa chữa, cung ứng dịch vụ phụ trợ đơn giản cho DN lớn, sản xuất nhỏ với công nghệ đơn giản… và thị trường tiềm năng còn rất hạn chế.

DNNVV luôn ở trong vòng lẩn quẩn của năng lực cạnh tranh thấp bởi thiếu vốn, nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp nên chậm đầu tư đổi mới công nghệ. Công nghệ lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất với giá trị gia tăng cao.

Mặt khác, DNNVV khá rời rạc, chưa kết nối sản xuất phụ trợ được với DN lớn. Trong mạng lưới liên kết giữa DN cùng ngành luôn hình thành hai nhóm: DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DN nhỏ giữ vai trò cung ứng phụ trợ.

Các DN lớn ở Việt Nam chưa tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. Các DN lớn cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để hỗ trợ công nghệ, vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

Sản xuất mật ong xuất khẩu. Ảnh: CAO THĂNG

Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI khác để thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các DN FDI.

Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là DN FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ, họ có thể sẽ di chuyển nhà máy đi bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn, hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Các ngành nghề trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, ngành này là đầu vào cho ngành khác. Trong mối quan hệ đó, luôn tồn tại nhóm DN dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Do đó, nếu DNNVV của Việt Nam muốn phát triển quy mô kinh doanh cần phải tích hợp được vào chuỗi cung ứng đó. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của DNNVV của Việt Nam còn nhiều hạn chế bởi nhu cầu sản phẩm phụ trợ chưa hướng đến DN trong nước. DN FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, số lượng và tiến độ giao hàng.

Vì vậy, họ thường đặt hàng với những đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử nên không hấp dẫn được DN trong nước đầu tư cải tiến công nghệ. Mặt khác, ngay cả các DN lớn trong nước cũng ngại đặt hàng các DN nội cung ứng cũng với lý do tương tự.

Nhiều chính sách hỗ trợ… chưa tới

DNNVV luôn là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế, DN lớn trong nước chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh với DN nước ngoài.

Khi DN nội gặp khó khăn trong việc tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu, họ kỳ vọng nhận được cơ hội do Chính phủ kiến tạo. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập nước, ô nhiễm không khí...

Việc đầu tư các công trình này sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn giúp DNNVV phát triển, nhưng đối tượng hưởng lợi lớn từ các công trình này lại là các DN lớn, DN FDI. Mặt khác, lâu nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội địa, nhưng gần đây, nhiều hệ bán lẻ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó là phân phối hàng hóa nhập khẩu.

Do vậy, DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng như xuất khẩu.

Mặt khác, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực, nghiên cứu công nghệ… còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng nguyện vọng của DN.

Chẳng hạn việc hỗ trợ kinh phí cho DNNVV tham gia xúc tiến thị trường, nhưng lại không có chính sách tạo lập thị trường thực cho DN; hỗ trợ nghiên cứu công nghệ cho các nhà khoa học với nhiều vấn đề không liên quan đến nhu cầu của DN; quy định về trích lập quỹ đổi mới công nghệ nhưng không có cơ chế hướng dẫn, tư vấn sử dụng quỹ cho đúng mục đích (phần lớn DN sử dụng quỹ này không đúng mục đích); quy định hỗ trợ kinh phí đào tạo cho DNNVV, nhưng không kết nối DN để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của họ…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển DN chưa phát huy được hiệu ứng do thiếu tính cụ thể, thiếu cân nhắc đến tính khả thi liên quan đến điều kiện tiếp cận, tư vấn hỗ trợ DN tiếp cận, chưa thật sự kiến tạo cơ hội cho DN.

Cũng như chưa định hình rõ đối tượng đối tượng chủ yếu lan tỏa hiệu ứng chính sách, chưa hướng đến mối liên kết giữa DN lớn với DNNVV.

Liên kết để lớn lên DNNVV sẽ lớn nhanh khi tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu hoặc liên kết chặt chẽ với các DN lớn; đồng thời, cần sự trợ giúp từ hệ thống bán lẻ phân phối hàng hóa của họ. Cần thúc đẩy hình thành các mạng lưới liên kết giữa DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DNNVV giữ vai trò cung ứng phụ trợ. DN lớn chỉ đảm nhận tốt vai trò dẫn dắt khi tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, tích cực nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu, nghiên cứu công nghệ sản xuất, phát triển hệ thống cung ứng mang tính ổn định. Khi đó, DNNVV sẽ có được thị trường ổn định để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý để ngày càng lớn mạnh. Để thúc đẩy quá trình đó, trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia cần định hướng rõ vai trò của DN lớn dẫn dắt DNNVV trong từng nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, trên các khía cạnh dẫn dắt về nhu cầu cung ứng phụ trợ, công nghệ, cơ sở hạ tầng sản xuất... Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV, chẳng hạn như DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ… Cạnh đó, cần kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu; trong đó, cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công hay công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí… Chính phủ cần ưu tiên huy động các DNNVV tham gia. Đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt về thị trường đầu ra cho DNNVV thông qua thúc đẩy phát triển các hệ thống phấn phối hàng hóa của DNNVV. Chính phủ phát triển các chương trình tiếp sức DNNVV về nâng cao năng lực quản lý chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và các quy chuẩn ngành. Nếu sản xuất không đạt tiêu chuẩn theo cam kết hội nhập thì hàng hóa của DNNVV chẳng những không xuất khẩu được mà còn không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. Cần huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/sản xuất, nhằm mục đích vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ. Đồng thời, định hướng các hiệp hội là nơi tổng hợp những vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN. Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp nhằm tạo vốn kinh doanh.

Thanh Điền

Tin bài khác
Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Hơn 76% sản phẩm khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn dừng ở giai đoạn nghiên cứu, trong khi liên kết giữa nhà khoa học và doanh nghiệp còn hạn chế. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, dữ liệu và liên kết chuỗi giá trị, đẩy nhanh ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho ngành nông nghiệp.
Hải quan Việt Nam – Lào tăng cường hợp tác, doanh nghiệp chờ giảm vướng mắc cửa khẩu

Hải quan Việt Nam – Lào tăng cường hợp tác, doanh nghiệp chờ giảm vướng mắc cửa khẩu

Kế hoạch hợp tác Hải quan Việt Nam – Lào năm 2027 được xây dựng trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng, nhưng doanh nghiệp vẫn đối mặt với yêu cầu về xuất xứ hàng hóa, thủ tục tại cửa khẩu và chi phí logistics. Bên cạnh phối hợp chống buôn lậu, hai bên tiếp tục trao đổi dữ liệu, nâng cao năng lực nghiệp vụ và củng cố cơ chế phối hợp từ trung ương đến địa phương.
Doanh nghiệp nội địa phải nâng năng suất để duy trì tăng trưởng cao

Doanh nghiệp nội địa phải nâng năng suất để duy trì tăng trưởng cao

Thu nhập người lao động tiếp tục tăng trong năm 2026, đặt ra yêu cầu nâng năng suất để duy trì thành quả lâu dài. Theo TS. Đinh Thế Hiển – Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia Hội Doanh nghiệp Tài chính và Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (FREA-HCM) thuộc HCM-SME; doanh nghiệp nội địa cần nâng năng lực tạo giá trị và tham gia hiệu quả vào chuỗi xuất khẩu, giúp tăng trưởng cải thiện đời sống người dân.
AEF 2026: Thích ứng và hợp tác để tạo động lực tăng trưởng mới

AEF 2026: Thích ứng và hợp tác để tạo động lực tăng trưởng mới

Sáng ngày 27/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 (AEF 2026) đã khai mạc Phiên thảo luận chuyên đề cùng với trình diễn các giải pháp công nghệ mới và đổi mới sáng tạo.
TP. Hồ Chí Minh khơi thông bốn động lực, đón dòng vốn đầu tư

TP. Hồ Chí Minh khơi thông bốn động lực, đón dòng vốn đầu tư

Động lực phát triển TP. Hồ Chí Minh đang được đặt trong mối liên kết giữa hạ tầng, tài chính, năng lượng sạch và kinh tế số. Tại chương trình CEO 500 trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026, Thành phố hướng đến mục tiêu thu hút 19 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng kết nối với dòng vốn, công nghệ và thị trường quốc tế. Bài toán đặt ra là chuyển lợi thế thể chế thành dự án thực chất, giảm điểm nghẽn và nâng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việt Nam – Ba Lan nâng tầm quan hệ, mở rộng hợp tác nhiều lĩnh vực

Việt Nam – Ba Lan nâng tầm quan hệ, mở rộng hợp tác nhiều lĩnh vực

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk, sáng 26/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì lễ đón trọng thể, tiến hành hội đàm và chứng kiến trao các văn kiện hợp tác giữa hai nước. Hai bên thống nhất thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, tạo động lực mới thúc đẩy hợp tác toàn diện, thực chất và hiệu quả.
TP. Hồ Chí Minh tháo điểm nghẽn đổi mới sáng tạo mở

TP. Hồ Chí Minh tháo điểm nghẽn đổi mới sáng tạo mở

Đổi mới sáng tạo mở được TP. Hồ Chí Minh đặt vào trung tâm phát triển công nghiệp thế hệ mới. Với 50 công nghệ được kết nối, 15 đơn đặt hàng và 20 thỏa thuận hợp tác, bài toán tiếp theo là thương mại hóa kết quả nghiên cứu, giúp doanh nghiệp tăng năng suất, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp.
Hải Phòng 80 năm khắc ghi lời Bác: Từ niềm tự hào lịch sử đến khát vọng vươn tầm

Hải Phòng 80 năm khắc ghi lời Bác: Từ niềm tự hào lịch sử đến khát vọng vươn tầm

Tám thập kỷ sau chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời căn dặn về tinh thần “đồng tâm hiệp lực” tiếp tục trở thành động lực để Hải Phòng phát huy sức mạnh đoàn kết, khai mở không gian phát triển và hướng tới những mục tiêu lớn trong giai đoạn mới.
TP. Hồ Chí Minh hút hơn 17,8 tỷ USD vốn FDI, tăng tốc khơi thông nguồn lực

TP. Hồ Chí Minh hút hơn 17,8 tỷ USD vốn FDI, tăng tốc khơi thông nguồn lực

Thu hút hơn 17,8 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 9 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh ghi nhận mức cao kỷ lục, vượt 62% mục tiêu cả năm. Bài toán đặt ra lúc này không chỉ là giữ sức hút với nhà đầu tư quốc tế, mà còn phải tháo gỡ điểm nghẽn, đưa các dự án vào vận hành để chuyển dòng vốn đăng ký thành động lực tăng trưởng thực chất.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Hậu kiểm phải thực chất, vi phạm an toàn thực phẩm phải xử lý nghiêm

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Hậu kiểm phải thực chất, vi phạm an toàn thực phẩm phải xử lý nghiêm

Nhấn mạnh an toàn thực phẩm gắn trực tiếp với sức khỏe người dân và uy tín quốc gia, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu hoàn thiện dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) theo hướng thống nhất đầu mối quản lý, tăng cường hậu kiểm đi đôi với giám sát chặt chẽ, xây dựng chế tài đủ sức răn đe và loại bỏ những hành vi cố tình vi phạm vì lợi nhuận.
Hạ tầng giao thông TP. Hồ Chí Minh trước sức ép cần nguồn vốn 1,12 triệu tỷ đồng

Hạ tầng giao thông TP. Hồ Chí Minh trước sức ép cần nguồn vốn 1,12 triệu tỷ đồng

Trước áp lực giao thông ngày càng lớn của siêu đô thị khoảng 14 triệu dân, TP. Hồ Chí Minh cần khoảng 1,12 triệu tỷ đồng đầu tư hạ tầng giao thông giai đoạn 2026–2030, trong khi ngân sách mới đáp ứng khoảng 55% nhu cầu.
TP. Hồ Chí Minh quảng bá AEF 2026 tại Seoul trước giờ khai mạc

TP. Hồ Chí Minh quảng bá AEF 2026 tại Seoul trước giờ khai mạc

Trước thềm khai mạc Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026), hình ảnh và thông điệp của sự kiện được trình chiếu trên hệ thống màn hình điện tử tại phố đi bộ Myeongdong, Seoul (Hàn Quốc), góp phần quảng bá hình ảnh TP. Hồ Chí Minh và thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế.
Luật Đầu tư sửa đổi cần buộc ưu đãi đi cùng hiệu quả thực tế

Luật Đầu tư sửa đổi cần buộc ưu đãi đi cùng hiệu quả thực tế

Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát hiệu quả ưu đãi, tránh thu hút vốn bằng mọi giá. Chính sách cần có tiêu chí đo lường cụ thể, cơ chế hậu kiểm và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Đề xuất xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, mở rộng thị trường sáng tạo

Đề xuất xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, mở rộng thị trường sáng tạo

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa hướng tới hoàn thiện cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ, phát triển nhân lực, hạ tầng sáng tạo và thị trường. Cơ quan thẩm tra đề nghị chú trọng bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng, lấy chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm.
Sửa Luật Đầu tư, mở đường cho môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh

Sửa Luật Đầu tư, mở đường cho môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh

Tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, đổi mới chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư là những trọng tâm trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư được Quốc hội thảo luận tại Kỳ họp thứ 2, khóa XVI, hướng tới nâng cao sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam.