Thứ năm 16/07/2026 15:01
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Sự yếu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

12/10/2020 00:00
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn, là đặc trưng của mọi nền kinh tế, chứ không là đặc thù riêng ở Việt Nam. Chất lượng phát triển DN của một nước thể hiện qua mức độ phát triển từ DNNVV thành DN lớn. Hạn chế lớn nhất ở nước ta l

Cái khó bó cái khôn

DNNVV ở Việt Nam phổ biến hoạt động trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sửa chữa, cung ứng dịch vụ phụ trợ đơn giản cho DN lớn, sản xuất nhỏ với công nghệ đơn giản… và thị trường tiềm năng còn rất hạn chế.

DNNVV luôn ở trong vòng lẩn quẩn của năng lực cạnh tranh thấp bởi thiếu vốn, nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp nên chậm đầu tư đổi mới công nghệ. Công nghệ lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất với giá trị gia tăng cao.

Mặt khác, DNNVV khá rời rạc, chưa kết nối sản xuất phụ trợ được với DN lớn. Trong mạng lưới liên kết giữa DN cùng ngành luôn hình thành hai nhóm: DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DN nhỏ giữ vai trò cung ứng phụ trợ.

Các DN lớn ở Việt Nam chưa tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. Các DN lớn cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để hỗ trợ công nghệ, vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

Sản xuất mật ong xuất khẩu. Ảnh: CAO THĂNG

Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI khác để thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các DN FDI.

Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là DN FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ, họ có thể sẽ di chuyển nhà máy đi bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn, hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Các ngành nghề trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, ngành này là đầu vào cho ngành khác. Trong mối quan hệ đó, luôn tồn tại nhóm DN dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Do đó, nếu DNNVV của Việt Nam muốn phát triển quy mô kinh doanh cần phải tích hợp được vào chuỗi cung ứng đó. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của DNNVV của Việt Nam còn nhiều hạn chế bởi nhu cầu sản phẩm phụ trợ chưa hướng đến DN trong nước. DN FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, số lượng và tiến độ giao hàng.

Vì vậy, họ thường đặt hàng với những đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử nên không hấp dẫn được DN trong nước đầu tư cải tiến công nghệ. Mặt khác, ngay cả các DN lớn trong nước cũng ngại đặt hàng các DN nội cung ứng cũng với lý do tương tự.

Nhiều chính sách hỗ trợ… chưa tới

DNNVV luôn là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế, DN lớn trong nước chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh với DN nước ngoài.

Khi DN nội gặp khó khăn trong việc tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu, họ kỳ vọng nhận được cơ hội do Chính phủ kiến tạo. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập nước, ô nhiễm không khí...

Việc đầu tư các công trình này sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn giúp DNNVV phát triển, nhưng đối tượng hưởng lợi lớn từ các công trình này lại là các DN lớn, DN FDI. Mặt khác, lâu nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội địa, nhưng gần đây, nhiều hệ bán lẻ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó là phân phối hàng hóa nhập khẩu.

Do vậy, DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng như xuất khẩu.

Mặt khác, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực, nghiên cứu công nghệ… còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng nguyện vọng của DN.

Chẳng hạn việc hỗ trợ kinh phí cho DNNVV tham gia xúc tiến thị trường, nhưng lại không có chính sách tạo lập thị trường thực cho DN; hỗ trợ nghiên cứu công nghệ cho các nhà khoa học với nhiều vấn đề không liên quan đến nhu cầu của DN; quy định về trích lập quỹ đổi mới công nghệ nhưng không có cơ chế hướng dẫn, tư vấn sử dụng quỹ cho đúng mục đích (phần lớn DN sử dụng quỹ này không đúng mục đích); quy định hỗ trợ kinh phí đào tạo cho DNNVV, nhưng không kết nối DN để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của họ…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển DN chưa phát huy được hiệu ứng do thiếu tính cụ thể, thiếu cân nhắc đến tính khả thi liên quan đến điều kiện tiếp cận, tư vấn hỗ trợ DN tiếp cận, chưa thật sự kiến tạo cơ hội cho DN.

Cũng như chưa định hình rõ đối tượng đối tượng chủ yếu lan tỏa hiệu ứng chính sách, chưa hướng đến mối liên kết giữa DN lớn với DNNVV.

Liên kết để lớn lên DNNVV sẽ lớn nhanh khi tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu hoặc liên kết chặt chẽ với các DN lớn; đồng thời, cần sự trợ giúp từ hệ thống bán lẻ phân phối hàng hóa của họ. Cần thúc đẩy hình thành các mạng lưới liên kết giữa DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DNNVV giữ vai trò cung ứng phụ trợ. DN lớn chỉ đảm nhận tốt vai trò dẫn dắt khi tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, tích cực nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu, nghiên cứu công nghệ sản xuất, phát triển hệ thống cung ứng mang tính ổn định. Khi đó, DNNVV sẽ có được thị trường ổn định để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý để ngày càng lớn mạnh. Để thúc đẩy quá trình đó, trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia cần định hướng rõ vai trò của DN lớn dẫn dắt DNNVV trong từng nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, trên các khía cạnh dẫn dắt về nhu cầu cung ứng phụ trợ, công nghệ, cơ sở hạ tầng sản xuất... Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV, chẳng hạn như DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ… Cạnh đó, cần kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu; trong đó, cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công hay công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí… Chính phủ cần ưu tiên huy động các DNNVV tham gia. Đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt về thị trường đầu ra cho DNNVV thông qua thúc đẩy phát triển các hệ thống phấn phối hàng hóa của DNNVV. Chính phủ phát triển các chương trình tiếp sức DNNVV về nâng cao năng lực quản lý chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và các quy chuẩn ngành. Nếu sản xuất không đạt tiêu chuẩn theo cam kết hội nhập thì hàng hóa của DNNVV chẳng những không xuất khẩu được mà còn không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. Cần huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/sản xuất, nhằm mục đích vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ. Đồng thời, định hướng các hiệp hội là nơi tổng hợp những vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN. Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp nhằm tạo vốn kinh doanh.

Thanh Điền

Tin bài khác
Bộ Xây dựng siết tiến độ trạm dừng nghỉ cao tốc Bắc Nam trong năm 2026

Bộ Xây dựng siết tiến độ trạm dừng nghỉ cao tốc Bắc Nam trong năm 2026

Bộ Xây dựng yêu cầu tăng tốc thi công, xử lý nhà đầu tư chậm trễ nhằm hoàn thành toàn bộ trạm dừng nghỉ cao tốc Bắc - Nam trong năm 2026, bảo đảm đồng bộ hạ tầng giao thông.
Đề xuất tăng lương tối thiểu vùng cao nhất 390.000 đồng từ năm 2027

Đề xuất tăng lương tối thiểu vùng cao nhất 390.000 đồng từ năm 2027

Hội đồng Tiền lương quốc gia thống nhất đề xuất tăng lương tối thiểu vùng bình quân 7,8%, mức cao nhất 390.000 đồng, phản ánh cải thiện kinh tế nhưng vẫn đặt áp lực lên doanh nghiệp.
Khai thác tối đa động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Khai thác tối đa động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Trong 6 tháng đầu năm, nhiều địa phương tăng trưởng tích cực nhưng chưa đạt kế hoạch đề ra. Áp lực hoàn thành mục tiêu hai con số đòi hỏi phải khơi thông nguồn lực, thúc đẩy mạnh các động lực tăng trưởng trong thời gian tới.
Hoàn thiện Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi bảo đảm minh bạch thị trường

Hoàn thiện Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi bảo đảm minh bạch thị trường

Hội nghị phản biện xã hội góp ý dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm minh bạch, đồng bộ, bảo vệ quyền lợi người dân và thúc đẩy thị trường phát triển bền vững.
Hải Phòng mở rộng cánh cửa hội nhập ASEAN, hướng tới trung tâm logistics và kinh tế số hàng đầu khu vực

Hải Phòng mở rộng cánh cửa hội nhập ASEAN, hướng tới trung tâm logistics và kinh tế số hàng đầu khu vực

Từ phát triển logistics xanh, kinh tế số đến nâng cao sức chống chịu của doanh nghiệp trước biến động toàn cầu, Hải Phòng đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng năng động của khu vực ASEAN thông qua kế hoạch hội nhập kinh tế giai đoạn 2026 - 2030.
Gỡ “điểm nghẽn” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Quảng Ninh kiến nghị nhiều cơ chế đột phá trong sửa đổi luật

Gỡ “điểm nghẽn” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Quảng Ninh kiến nghị nhiều cơ chế đột phá trong sửa đổi luật

Những vướng mắc về vốn, mặt bằng, tiêu chí phân loại doanh nghiệp và cơ chế hỗ trợ đã được Quảng Ninh kiến nghị tháo gỡ khi góp ý dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) tại buổi làm việc với Đoàn công tác của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội chiều 15/7.
Đề xuất cắt giảm 56 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, siết quản lý khí N2O

Đề xuất cắt giảm 56 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, siết quản lý khí N2O

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư đề xuất cắt giảm 56 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đồng thời bổ sung quy định cấm kinh doanh khí N2O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp ngoài mục đích y tế, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh: Sửa Luật Nhà ở gỡ vướng, thúc đẩy thị trường

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh: Sửa Luật Nhà ở gỡ vướng, thúc đẩy thị trường

Thứ trưởng Nguyễn Văn Sinh nhấn mạnh cần đẩy nhanh sửa Luật Nhà ở, tháo gỡ nút thắt pháp lý, tăng nguồn cung, ổn định thị trường bất động sản, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân.
Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hà Thị Nga: Cần đổi mới tư duy Luật Nhà ở

Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hà Thị Nga: Cần đổi mới tư duy Luật Nhà ở

Tại hội nghị phản biện ngày 15/7/2026, bà Hà Thị Nga nhấn mạnh cần đổi mới tư duy Luật Nhà ở, lấy người dân làm trung tâm, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển minh bạch, bền vững.
Hải Phòng thúc đẩy công nghiệp nông thôn “chuyển mình xanh”, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ trong năm 2026

Hải Phòng thúc đẩy công nghiệp nông thôn “chuyển mình xanh”, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ trong năm 2026

Nhằm tạo động lực mới cho khu vực công nghiệp nông thôn, UBND thành phố Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 242/KH-UBND về triển khai các nội dung khuyến công năm 2026, với trọng tâm là hỗ trợ đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển sản xuất theo hướng xanh, hiện đại, bền vững.
Kiểm soát lạm phát trước những sức ép cuối năm

Kiểm soát lạm phát trước những sức ép cuối năm

Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,38%, sát mục tiêu kiểm soát lạm phát của cả năm. Trong bối cảnh giá năng lượng, tỷ giá và chi phí đầu vào còn tiềm ẩn nhiều biến động, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tăng cường dự báo, chuẩn bị các kịch bản điều hành giá linh hoạt nhằm vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Đường ven biển Cà Mau được thúc đẩy, tăng tốc hoàn thiện kết nối giao thông vùng

Đường ven biển Cà Mau được thúc đẩy, tăng tốc hoàn thiện kết nối giao thông vùng

Cà Mau được đề xuất ưu tiên đầu tư đường ven biển và hoàn thiện mạng lưới cao tốc, nhằm tăng kết nối vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế và thu hút nguồn lực đầu tư.
Sửa 3 luật ngân hàng để khơi thông vốn và siết phòng chống rửa tiền

Sửa 3 luật ngân hàng để khơi thông vốn và siết phòng chống rửa tiền

Ba đạo luật quan trọng trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng đang được đề xuất sửa đổi nhằm tháo gỡ những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, bổ sung cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý vốn, thị trường trái phiếu và phòng, chống rửa tiền. Tuy nhiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lưu ý chỉ đưa vào luật những nội dung thật sự cần thiết, đã được đánh giá đầy đủ về tác động.
Đề xuất lập khu kinh tế đặc biệt, ưu tiên dự án đầu tư từ 1.500 tỷ đồng

Đề xuất lập khu kinh tế đặc biệt, ưu tiên dự án đầu tư từ 1.500 tỷ đồng

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển đô thị, trong đó đề xuất thành lập các khu kinh tế đặc biệt với cơ chế vượt trội nhằm tạo cực tăng trưởng mới, đồng thời ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược triển khai dự án quy mô từ hàng nghìn tỷ đồng.
Cao tốc Bảo Hà – Lai Châu 162 km có tổng vốn hơn 65.500 tỷ đồng

Cao tốc Bảo Hà – Lai Châu 162 km có tổng vốn hơn 65.500 tỷ đồng

Dự án cao tốc Bảo Hà – Lai Châu dài 162 km với 7 hầm xuyên núi, tổng vốn hơn 65.500 tỷ đồng, được kỳ vọng tạo cú hích lớn cho phát triển kinh tế vùng Tây Bắc.