Thứ sáu 27/03/2026 05:59
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Sự yếu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

12/10/2020 00:00
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn, là đặc trưng của mọi nền kinh tế, chứ không là đặc thù riêng ở Việt Nam. Chất lượng phát triển DN của một nước thể hiện qua mức độ phát triển từ DNNVV thành DN lớn. Hạn chế lớn nhất ở nước ta l

Cái khó bó cái khôn

DNNVV ở Việt Nam phổ biến hoạt động trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sửa chữa, cung ứng dịch vụ phụ trợ đơn giản cho DN lớn, sản xuất nhỏ với công nghệ đơn giản… và thị trường tiềm năng còn rất hạn chế.

DNNVV luôn ở trong vòng lẩn quẩn của năng lực cạnh tranh thấp bởi thiếu vốn, nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp nên chậm đầu tư đổi mới công nghệ. Công nghệ lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất với giá trị gia tăng cao.

Mặt khác, DNNVV khá rời rạc, chưa kết nối sản xuất phụ trợ được với DN lớn. Trong mạng lưới liên kết giữa DN cùng ngành luôn hình thành hai nhóm: DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DN nhỏ giữ vai trò cung ứng phụ trợ.

Các DN lớn ở Việt Nam chưa tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. Các DN lớn cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để hỗ trợ công nghệ, vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

Sản xuất mật ong xuất khẩu. Ảnh: CAO THĂNG

Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI khác để thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các DN FDI.

Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là DN FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ, họ có thể sẽ di chuyển nhà máy đi bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn, hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Các ngành nghề trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, ngành này là đầu vào cho ngành khác. Trong mối quan hệ đó, luôn tồn tại nhóm DN dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Do đó, nếu DNNVV của Việt Nam muốn phát triển quy mô kinh doanh cần phải tích hợp được vào chuỗi cung ứng đó. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của DNNVV của Việt Nam còn nhiều hạn chế bởi nhu cầu sản phẩm phụ trợ chưa hướng đến DN trong nước. DN FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, số lượng và tiến độ giao hàng.

Vì vậy, họ thường đặt hàng với những đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử nên không hấp dẫn được DN trong nước đầu tư cải tiến công nghệ. Mặt khác, ngay cả các DN lớn trong nước cũng ngại đặt hàng các DN nội cung ứng cũng với lý do tương tự.

Nhiều chính sách hỗ trợ… chưa tới

DNNVV luôn là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế, DN lớn trong nước chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh với DN nước ngoài.

Khi DN nội gặp khó khăn trong việc tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu, họ kỳ vọng nhận được cơ hội do Chính phủ kiến tạo. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập nước, ô nhiễm không khí...

Việc đầu tư các công trình này sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn giúp DNNVV phát triển, nhưng đối tượng hưởng lợi lớn từ các công trình này lại là các DN lớn, DN FDI. Mặt khác, lâu nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội địa, nhưng gần đây, nhiều hệ bán lẻ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó là phân phối hàng hóa nhập khẩu.

Do vậy, DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng như xuất khẩu.

Mặt khác, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực, nghiên cứu công nghệ… còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng nguyện vọng của DN.

Chẳng hạn việc hỗ trợ kinh phí cho DNNVV tham gia xúc tiến thị trường, nhưng lại không có chính sách tạo lập thị trường thực cho DN; hỗ trợ nghiên cứu công nghệ cho các nhà khoa học với nhiều vấn đề không liên quan đến nhu cầu của DN; quy định về trích lập quỹ đổi mới công nghệ nhưng không có cơ chế hướng dẫn, tư vấn sử dụng quỹ cho đúng mục đích (phần lớn DN sử dụng quỹ này không đúng mục đích); quy định hỗ trợ kinh phí đào tạo cho DNNVV, nhưng không kết nối DN để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của họ…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển DN chưa phát huy được hiệu ứng do thiếu tính cụ thể, thiếu cân nhắc đến tính khả thi liên quan đến điều kiện tiếp cận, tư vấn hỗ trợ DN tiếp cận, chưa thật sự kiến tạo cơ hội cho DN.

Cũng như chưa định hình rõ đối tượng đối tượng chủ yếu lan tỏa hiệu ứng chính sách, chưa hướng đến mối liên kết giữa DN lớn với DNNVV.

Liên kết để lớn lên DNNVV sẽ lớn nhanh khi tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu hoặc liên kết chặt chẽ với các DN lớn; đồng thời, cần sự trợ giúp từ hệ thống bán lẻ phân phối hàng hóa của họ. Cần thúc đẩy hình thành các mạng lưới liên kết giữa DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DNNVV giữ vai trò cung ứng phụ trợ. DN lớn chỉ đảm nhận tốt vai trò dẫn dắt khi tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, tích cực nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu, nghiên cứu công nghệ sản xuất, phát triển hệ thống cung ứng mang tính ổn định. Khi đó, DNNVV sẽ có được thị trường ổn định để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý để ngày càng lớn mạnh. Để thúc đẩy quá trình đó, trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia cần định hướng rõ vai trò của DN lớn dẫn dắt DNNVV trong từng nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, trên các khía cạnh dẫn dắt về nhu cầu cung ứng phụ trợ, công nghệ, cơ sở hạ tầng sản xuất... Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV, chẳng hạn như DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ… Cạnh đó, cần kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu; trong đó, cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công hay công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí… Chính phủ cần ưu tiên huy động các DNNVV tham gia. Đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt về thị trường đầu ra cho DNNVV thông qua thúc đẩy phát triển các hệ thống phấn phối hàng hóa của DNNVV. Chính phủ phát triển các chương trình tiếp sức DNNVV về nâng cao năng lực quản lý chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và các quy chuẩn ngành. Nếu sản xuất không đạt tiêu chuẩn theo cam kết hội nhập thì hàng hóa của DNNVV chẳng những không xuất khẩu được mà còn không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. Cần huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/sản xuất, nhằm mục đích vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ. Đồng thời, định hướng các hiệp hội là nơi tổng hợp những vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN. Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp nhằm tạo vốn kinh doanh.

Thanh Điền

Tin bài khác
Tái khởi động các nhà máy Ethanol: “Chìa khóa” bảo đảm nguồn cung cho lộ trình xăng sinh học

Tái khởi động các nhà máy Ethanol: “Chìa khóa” bảo đảm nguồn cung cho lộ trình xăng sinh học

Việc khôi phục vận hành và nâng công suất các nhà máy Ethanol trong nước đang trở thành mắt xích quan trọng trong bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ lộ trình thay thế xăng khoáng bằng xăng sinh học E10RON95 trên phạm vi toàn quốc.
Xem xét đẩy sớm lộ trình xăng sinh học E10: Bài toán cấp bách về năng lượng

Xem xét đẩy sớm lộ trình xăng sinh học E10: Bài toán cấp bách về năng lượng

Sáng 26/3, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc xem xét đẩy sớm lộ trình chuyển đổi sang xăng sinh học E10, với mốc thời gian dự kiến ngay trong tháng 4/2026, thay vì từ ngày 1/6 như kế hoạch trước đó.
Đẩy nhanh thể chế hóa Luật Xây dựng 2025 để sớm tạo đột phá phát triển

Đẩy nhanh thể chế hóa Luật Xây dựng 2025 để sớm tạo đột phá phát triển

Bộ Xây dựng đang khẩn trương hoàn thiện các nghị định, thông tư nhằm sớm đưa Luật Xây dựng 2025 vào cuộc sống, tạo nền tảng pháp lý minh bạch, thúc đẩy đầu tư, chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Siết bảo mật trong công nghiệp - thương mại để giữ dư địa điều hành

Siết bảo mật trong công nghiệp - thương mại để giữ dư địa điều hành

Việc Thủ tướng ban hành Quyết định 476/QĐ-TTg về Danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực công nghiệp và thương mại không chỉ là động tác pháp lý thuần túy. Đằng sau quyết định này là yêu cầu bảo vệ thông tin nhạy cảm, giữ an toàn cho quá trình điều hành ở những lĩnh vực có tác động trực tiếp tới an ninh năng lượng, ổn định thị trường và lợi ích quốc gia.
Định hình mô hình phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên số

Định hình mô hình phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên số

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026 không chỉ là nơi trao đổi học thuật mà còn đặt ra một vấn đề lớn của đất nước: Việt Nam sẽ phát triển theo mô hình nào trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, yêu cầu đặt ra là phải định hình một hướng đi mới, dựa nhiều hơn vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo động lực tăng trưởng bền vững.
Hải quan khu vực IV đối thoại doanh nghiệp: Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển bền vững

Hải quan khu vực IV đối thoại doanh nghiệp: Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển bền vững

Ngày 25/3/2026, tại Hưng Yên, Chi cục Hải quan khu vực IV đã tổ chức Hội nghị đối thoại Hải quan – Doanh nghiệp năm 2026 với chủ đề “Vì một cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững”. Sự kiện thu hút sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, đại diện các sở, ban, ngành cùng hơn 170 doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn.
Chuẩn bị thông xe đồng loạt 5 dự án cao tốc Bắc - Nam đoạn phía Đông

Chuẩn bị thông xe đồng loạt 5 dự án cao tốc Bắc - Nam đoạn phía Đông

Năm dự án cao tốc Bắc – Nam giai đoạn cuối đang bước vào giai đoạn nước rút, với hàng trăm mũi thi công hoạt động liên tục, quyết tâm hoàn thành, đưa vào khai thác trong quý II/2026.
Doanh nghiệp Việt “chạy đua” chuyển đổi xanh để giữ thị trường xuất khẩu

Doanh nghiệp Việt “chạy đua” chuyển đổi xanh để giữ thị trường xuất khẩu

Kinh tế tuần hoàn, tiêu chuẩn ESG, CBAM và các yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng đang buộc doanh nghiệp Việt phải thay đổi mô hình sản xuất. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh không chỉ là xu hướng mà đã trở thành điều kiện sống còn để nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu vào thị trường toàn cầu.
Hà Nội được yêu cầu đánh giá kỹ phương án xây sân bay thứ hai

Hà Nội được yêu cầu đánh giá kỹ phương án xây sân bay thứ hai

Thường trực Chính phủ đề nghị Hà Nội đánh giá toàn diện phương án xây dựng sân bay thứ hai, đặt trong tương quan với mạng cảng hàng không khu vực, đồng thời tính toán hiệu quả khai thác, kết nối hạ tầng và định hướng phát triển kinh tế sân bay trong dài hạn.
Phú Quốc: Lãnh đạo đối thoại với dân cùng tháo gỡ về giải phóng mặt bằng

Phú Quốc: Lãnh đạo đối thoại với dân cùng tháo gỡ về giải phóng mặt bằng

Theo ông Trần Minh Khoa, Chủ tịch UBND đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang, mục tiêu chính của chính quyền không phải để đòi đất, mà để lắng nghe và giải thích cho bà con hiểu rõ việc bàn giao mặt bằng thực hiện dự án cho APEC là phục vụ lợi ích chung.
Đường sắt – trụ cột chiến lược trong lộ trình giao thông phát thải ròng bằng 0

Đường sắt – trụ cột chiến lược trong lộ trình giao thông phát thải ròng bằng 0

Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU – Việt Nam, tại phiên thảo luận chuyên đề “Hướng tới giao thông phát thải ròng bằng 0: Ngành đường sắt”, các chuyên gia, nhà quản lý đã nhấn mạnh vai trò then chốt của đường sắt trong chiến lược chuyển đổi xanh, đồng thời chỉ ra những định hướng quan trọng để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ và phát triển hệ sinh thái công nghiệp đường sắt hiện đại.
Bộ Xây dựng yêu cầu chủ động nguồn nhiên liệu để ổn định vận tải hàng không trước biến động

Bộ Xây dựng yêu cầu chủ động nguồn nhiên liệu để ổn định vận tải hàng không trước biến động

Trước áp lực giá nhiên liệu Jet A1 tăng cao, Bộ Xây dựng yêu cầu ngành hàng không xây dựng kịch bản ứng phó linh hoạt nhằm đảm bảo khai thác ổn định, kiểm soát chi phí và giữ mặt bằng giá vé hợp lý.
Phú Thọ chọn hướng tuyến, ga trung tâm đường sắt Lào Cai – Hải Phòng

Phú Thọ chọn hướng tuyến, ga trung tâm đường sắt Lào Cai – Hải Phòng

Phú Thọ cơ bản thống nhất phương án hướng tuyến, lựa chọn ga Sơn Đông là ga trung tâm cấp tỉnh, đẩy nhanh hoàn thiện hồ sơ dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.
Thủ tướng yêu cầu đẩy sớm lộ trình xăng E10, có thể bán từ tháng 4/2026

Thủ tướng yêu cầu đẩy sớm lộ trình xăng E10, có thể bán từ tháng 4/2026

Lộ trình đưa xăng sinh học E10 ra thị trường đang được thúc đẩy nhanh hơn dự kiến, trong bối cảnh Việt Nam muốn giảm phụ thuộc xăng khoáng nhập khẩu, tăng chủ động nguồn cung và đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng sạch.
Đề xuất giảm thuế môi trường với xăng dầu: Doanh nghiệp chờ thêm “liều hạ nhiệt” chi phí đầu vào

Đề xuất giảm thuế môi trường với xăng dầu: Doanh nghiệp chờ thêm “liều hạ nhiệt” chi phí đầu vào

Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế bảo vệ môi trường với xăng 1.000 đồng/lít, dầu diesel và nhiên liệu bay 500 đồng/lít. Nếu được thông qua, giá xăng trong nước có thể giảm hơn 1.000 đồng/lít, góp phần hạ áp lực chi phí cho doanh nghiệp và hỗ trợ kiểm soát lạm phát.