Thứ bảy 04/07/2026 04:03
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Sự yếu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

12/10/2020 00:00
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn, là đặc trưng của mọi nền kinh tế, chứ không là đặc thù riêng ở Việt Nam. Chất lượng phát triển DN của một nước thể hiện qua mức độ phát triển từ DNNVV thành DN lớn. Hạn chế lớn nhất ở nước ta l

Cái khó bó cái khôn

DNNVV ở Việt Nam phổ biến hoạt động trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sửa chữa, cung ứng dịch vụ phụ trợ đơn giản cho DN lớn, sản xuất nhỏ với công nghệ đơn giản… và thị trường tiềm năng còn rất hạn chế.

DNNVV luôn ở trong vòng lẩn quẩn của năng lực cạnh tranh thấp bởi thiếu vốn, nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp nên chậm đầu tư đổi mới công nghệ. Công nghệ lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất với giá trị gia tăng cao.

Mặt khác, DNNVV khá rời rạc, chưa kết nối sản xuất phụ trợ được với DN lớn. Trong mạng lưới liên kết giữa DN cùng ngành luôn hình thành hai nhóm: DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DN nhỏ giữ vai trò cung ứng phụ trợ.

Các DN lớn ở Việt Nam chưa tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. Các DN lớn cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để hỗ trợ công nghệ, vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

Sản xuất mật ong xuất khẩu. Ảnh: CAO THĂNG

Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI khác để thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các DN FDI.

Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là DN FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ, họ có thể sẽ di chuyển nhà máy đi bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn, hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Các ngành nghề trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, ngành này là đầu vào cho ngành khác. Trong mối quan hệ đó, luôn tồn tại nhóm DN dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Do đó, nếu DNNVV của Việt Nam muốn phát triển quy mô kinh doanh cần phải tích hợp được vào chuỗi cung ứng đó. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của DNNVV của Việt Nam còn nhiều hạn chế bởi nhu cầu sản phẩm phụ trợ chưa hướng đến DN trong nước. DN FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, số lượng và tiến độ giao hàng.

Vì vậy, họ thường đặt hàng với những đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử nên không hấp dẫn được DN trong nước đầu tư cải tiến công nghệ. Mặt khác, ngay cả các DN lớn trong nước cũng ngại đặt hàng các DN nội cung ứng cũng với lý do tương tự.

Nhiều chính sách hỗ trợ… chưa tới

DNNVV luôn là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế, DN lớn trong nước chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh với DN nước ngoài.

Khi DN nội gặp khó khăn trong việc tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu, họ kỳ vọng nhận được cơ hội do Chính phủ kiến tạo. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập nước, ô nhiễm không khí...

Việc đầu tư các công trình này sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn giúp DNNVV phát triển, nhưng đối tượng hưởng lợi lớn từ các công trình này lại là các DN lớn, DN FDI. Mặt khác, lâu nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội địa, nhưng gần đây, nhiều hệ bán lẻ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó là phân phối hàng hóa nhập khẩu.

Do vậy, DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng như xuất khẩu.

Mặt khác, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực, nghiên cứu công nghệ… còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng nguyện vọng của DN.

Chẳng hạn việc hỗ trợ kinh phí cho DNNVV tham gia xúc tiến thị trường, nhưng lại không có chính sách tạo lập thị trường thực cho DN; hỗ trợ nghiên cứu công nghệ cho các nhà khoa học với nhiều vấn đề không liên quan đến nhu cầu của DN; quy định về trích lập quỹ đổi mới công nghệ nhưng không có cơ chế hướng dẫn, tư vấn sử dụng quỹ cho đúng mục đích (phần lớn DN sử dụng quỹ này không đúng mục đích); quy định hỗ trợ kinh phí đào tạo cho DNNVV, nhưng không kết nối DN để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của họ…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển DN chưa phát huy được hiệu ứng do thiếu tính cụ thể, thiếu cân nhắc đến tính khả thi liên quan đến điều kiện tiếp cận, tư vấn hỗ trợ DN tiếp cận, chưa thật sự kiến tạo cơ hội cho DN.

Cũng như chưa định hình rõ đối tượng đối tượng chủ yếu lan tỏa hiệu ứng chính sách, chưa hướng đến mối liên kết giữa DN lớn với DNNVV.

Liên kết để lớn lên DNNVV sẽ lớn nhanh khi tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu hoặc liên kết chặt chẽ với các DN lớn; đồng thời, cần sự trợ giúp từ hệ thống bán lẻ phân phối hàng hóa của họ. Cần thúc đẩy hình thành các mạng lưới liên kết giữa DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DNNVV giữ vai trò cung ứng phụ trợ. DN lớn chỉ đảm nhận tốt vai trò dẫn dắt khi tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, tích cực nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu, nghiên cứu công nghệ sản xuất, phát triển hệ thống cung ứng mang tính ổn định. Khi đó, DNNVV sẽ có được thị trường ổn định để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý để ngày càng lớn mạnh. Để thúc đẩy quá trình đó, trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia cần định hướng rõ vai trò của DN lớn dẫn dắt DNNVV trong từng nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, trên các khía cạnh dẫn dắt về nhu cầu cung ứng phụ trợ, công nghệ, cơ sở hạ tầng sản xuất... Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV, chẳng hạn như DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ… Cạnh đó, cần kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu; trong đó, cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công hay công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí… Chính phủ cần ưu tiên huy động các DNNVV tham gia. Đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt về thị trường đầu ra cho DNNVV thông qua thúc đẩy phát triển các hệ thống phấn phối hàng hóa của DNNVV. Chính phủ phát triển các chương trình tiếp sức DNNVV về nâng cao năng lực quản lý chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và các quy chuẩn ngành. Nếu sản xuất không đạt tiêu chuẩn theo cam kết hội nhập thì hàng hóa của DNNVV chẳng những không xuất khẩu được mà còn không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. Cần huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/sản xuất, nhằm mục đích vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ. Đồng thời, định hướng các hiệp hội là nơi tổng hợp những vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN. Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp nhằm tạo vốn kinh doanh.

Thanh Điền

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực chính, trong khi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bứt phá, tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng.
Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của Quảng Ninh ước tăng 11,11%, vượt kịch bản đề ra. Cùng với đó, thu ngân sách đạt hơn 48.500 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ và giải ngân đầu tư công tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Theo Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê), công nghiệp Việt Nam đang được hỗ trợ bởi ba động lực lớn gồm FDI, đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào và vận tải, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ kịp thời.
Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Bước ngoặt quan trọng này mở ra cơ hội đưa thuế suất nhiều dòng hàng công nghiệp, thủy sản về 0%, đồng thời thúc đẩy làn sóng đầu tư công nghệ cao từ các nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu vào Việt Nam.
Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều dư địa tăng trưởng nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, đầu tư công được đẩy mạnh, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục dịch chuyển vào Việt Nam và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chủ động ứng phó với những rủi ro từ thị trường xuất khẩu, chi phí đầu vào và nguồn cung vật liệu xây dựng.
Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Theo ông Đậu Ngọc Hùng, Trưởng ban Thống kê Nông, lâm nghiệp và Thủy sản (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), việc Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành sẽ không được ghi nhận trực tiếp vào giá trị sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp, song sẽ tạo tác động tích cực thông qua cơ chế chi trả từ tín chỉ carbon, góp phần khuyến khích bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất gia tăng, trong bối cảnh hoạt động sản xuất, đặc biệt ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp tục khởi sắc.
Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện đạt 13,03 tỷ USD – mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong giai đoạn 2022-2026, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được củng cố.
Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong nửa đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng sự phục hồi của khai khoáng và sản xuất điện.
GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam 6 tháng đầu năm vẫn đạt 8,18%, cho thấy sức chống chịu và động lực phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế.
Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Thông báo số 345/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng nêu rõ yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp chậm điều chỉnh giảm giá cước khi chi phí đầu vào giảm, đồng thời ngăn chặn các hành vi đầu cơ gây bất ổn thị trường.
Đổi mới Luật doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng không gian phát triển kinh tế tư nhân

Đổi mới Luật doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng không gian phát triển kinh tế tư nhân

Dự thảo Luật sửa đổi đang mở ra kỳ vọng lớn khi chuyển mạnh sang tư duy phục vụ doanh nghiệp, tháo gỡ điểm nghẽn chính sách, tạo nền tảng phát triển bền vững cho khu vực kinh tế tư nhân.
Đề xuất hơn 334.000 tỷ đồng đầu tư cao tốc thúc đẩy liên kết Đông - Tây

Đề xuất hơn 334.000 tỷ đồng đầu tư cao tốc thúc đẩy liên kết Đông - Tây

Bộ Xây dựng đề xuất bố trí nguồn vốn lớn phát triển 12 dự án cao tốc trọng điểm, ưu tiên kết nối hai cực tăng trưởng và hành lang Đông Tây nhằm tạo động lực bứt phá kinh tế.
Sửa cơ chế điện khí LNG, cắt 50% chi phí thủ tục thu hút đại bàng năng lượng Nhật Bản

Sửa cơ chế điện khí LNG, cắt 50% chi phí thủ tục thu hút đại bàng năng lượng Nhật Bản

Tại buổi tiếp lãnh đạo hai tập đoàn năng lượng lớn của Nhật Bản là Tokyo Gas và Marubeni vào chiều 2/7, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc khẳng định Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách thể chế, tháo gỡ rào cản tài chính để thúc đẩy các dự án năng lượng công nghệ cao.
Phú Thọ vào cuộc cùng siêu dự án Vành đai 5 hơn 235.700 tỷ đồng

Phú Thọ vào cuộc cùng siêu dự án Vành đai 5 hơn 235.700 tỷ đồng

Dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội với tổng vốn hơn 235.700 tỷ đồng đang được thúc đẩy hoàn thiện, mở ra dư địa phát triển mới cho Phú Thọ và các địa phương phía Bắc.