Thứ ba 14/07/2026 13:51
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Sự yếu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

12/10/2020 00:00
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn, là đặc trưng của mọi nền kinh tế, chứ không là đặc thù riêng ở Việt Nam. Chất lượng phát triển DN của một nước thể hiện qua mức độ phát triển từ DNNVV thành DN lớn. Hạn chế lớn nhất ở nước ta l

Cái khó bó cái khôn

DNNVV ở Việt Nam phổ biến hoạt động trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sửa chữa, cung ứng dịch vụ phụ trợ đơn giản cho DN lớn, sản xuất nhỏ với công nghệ đơn giản… và thị trường tiềm năng còn rất hạn chế.

DNNVV luôn ở trong vòng lẩn quẩn của năng lực cạnh tranh thấp bởi thiếu vốn, nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp nên chậm đầu tư đổi mới công nghệ. Công nghệ lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất với giá trị gia tăng cao.

Mặt khác, DNNVV khá rời rạc, chưa kết nối sản xuất phụ trợ được với DN lớn. Trong mạng lưới liên kết giữa DN cùng ngành luôn hình thành hai nhóm: DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DN nhỏ giữ vai trò cung ứng phụ trợ.

Các DN lớn ở Việt Nam chưa tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. Các DN lớn cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để hỗ trợ công nghệ, vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

Sản xuất mật ong xuất khẩu. Ảnh: CAO THĂNG

Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI khác để thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các DN FDI.

Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là DN FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ, họ có thể sẽ di chuyển nhà máy đi bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn, hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Các ngành nghề trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, ngành này là đầu vào cho ngành khác. Trong mối quan hệ đó, luôn tồn tại nhóm DN dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Do đó, nếu DNNVV của Việt Nam muốn phát triển quy mô kinh doanh cần phải tích hợp được vào chuỗi cung ứng đó. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của DNNVV của Việt Nam còn nhiều hạn chế bởi nhu cầu sản phẩm phụ trợ chưa hướng đến DN trong nước. DN FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, số lượng và tiến độ giao hàng.

Vì vậy, họ thường đặt hàng với những đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử nên không hấp dẫn được DN trong nước đầu tư cải tiến công nghệ. Mặt khác, ngay cả các DN lớn trong nước cũng ngại đặt hàng các DN nội cung ứng cũng với lý do tương tự.

Nhiều chính sách hỗ trợ… chưa tới

DNNVV luôn là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế, DN lớn trong nước chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh với DN nước ngoài.

Khi DN nội gặp khó khăn trong việc tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu, họ kỳ vọng nhận được cơ hội do Chính phủ kiến tạo. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập nước, ô nhiễm không khí...

Việc đầu tư các công trình này sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn giúp DNNVV phát triển, nhưng đối tượng hưởng lợi lớn từ các công trình này lại là các DN lớn, DN FDI. Mặt khác, lâu nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội địa, nhưng gần đây, nhiều hệ bán lẻ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó là phân phối hàng hóa nhập khẩu.

Do vậy, DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng như xuất khẩu.

Mặt khác, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực, nghiên cứu công nghệ… còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng nguyện vọng của DN.

Chẳng hạn việc hỗ trợ kinh phí cho DNNVV tham gia xúc tiến thị trường, nhưng lại không có chính sách tạo lập thị trường thực cho DN; hỗ trợ nghiên cứu công nghệ cho các nhà khoa học với nhiều vấn đề không liên quan đến nhu cầu của DN; quy định về trích lập quỹ đổi mới công nghệ nhưng không có cơ chế hướng dẫn, tư vấn sử dụng quỹ cho đúng mục đích (phần lớn DN sử dụng quỹ này không đúng mục đích); quy định hỗ trợ kinh phí đào tạo cho DNNVV, nhưng không kết nối DN để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của họ…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển DN chưa phát huy được hiệu ứng do thiếu tính cụ thể, thiếu cân nhắc đến tính khả thi liên quan đến điều kiện tiếp cận, tư vấn hỗ trợ DN tiếp cận, chưa thật sự kiến tạo cơ hội cho DN.

Cũng như chưa định hình rõ đối tượng đối tượng chủ yếu lan tỏa hiệu ứng chính sách, chưa hướng đến mối liên kết giữa DN lớn với DNNVV.

Liên kết để lớn lên DNNVV sẽ lớn nhanh khi tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu hoặc liên kết chặt chẽ với các DN lớn; đồng thời, cần sự trợ giúp từ hệ thống bán lẻ phân phối hàng hóa của họ. Cần thúc đẩy hình thành các mạng lưới liên kết giữa DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DNNVV giữ vai trò cung ứng phụ trợ. DN lớn chỉ đảm nhận tốt vai trò dẫn dắt khi tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, tích cực nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu, nghiên cứu công nghệ sản xuất, phát triển hệ thống cung ứng mang tính ổn định. Khi đó, DNNVV sẽ có được thị trường ổn định để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý để ngày càng lớn mạnh. Để thúc đẩy quá trình đó, trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia cần định hướng rõ vai trò của DN lớn dẫn dắt DNNVV trong từng nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, trên các khía cạnh dẫn dắt về nhu cầu cung ứng phụ trợ, công nghệ, cơ sở hạ tầng sản xuất... Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV, chẳng hạn như DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ… Cạnh đó, cần kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu; trong đó, cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công hay công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí… Chính phủ cần ưu tiên huy động các DNNVV tham gia. Đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt về thị trường đầu ra cho DNNVV thông qua thúc đẩy phát triển các hệ thống phấn phối hàng hóa của DNNVV. Chính phủ phát triển các chương trình tiếp sức DNNVV về nâng cao năng lực quản lý chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và các quy chuẩn ngành. Nếu sản xuất không đạt tiêu chuẩn theo cam kết hội nhập thì hàng hóa của DNNVV chẳng những không xuất khẩu được mà còn không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. Cần huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/sản xuất, nhằm mục đích vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ. Đồng thời, định hướng các hiệp hội là nơi tổng hợp những vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN. Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp nhằm tạo vốn kinh doanh.

Thanh Điền

Tin bài khác
Đề xuất lập khu kinh tế đặc biệt, ưu tiên dự án đầu tư từ 1.500 tỷ đồng

Đề xuất lập khu kinh tế đặc biệt, ưu tiên dự án đầu tư từ 1.500 tỷ đồng

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển đô thị, trong đó đề xuất thành lập các khu kinh tế đặc biệt với cơ chế vượt trội nhằm tạo cực tăng trưởng mới, đồng thời ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược triển khai dự án quy mô từ hàng nghìn tỷ đồng.
Cao tốc Bảo Hà – Lai Châu 162 km có tổng vốn hơn 65.500 tỷ đồng

Cao tốc Bảo Hà – Lai Châu 162 km có tổng vốn hơn 65.500 tỷ đồng

Dự án cao tốc Bảo Hà – Lai Châu dài 162 km với 7 hầm xuyên núi, tổng vốn hơn 65.500 tỷ đồng, được kỳ vọng tạo cú hích lớn cho phát triển kinh tế vùng Tây Bắc.
Bổ sung 5 tuyến cao tốc mới, hoàn thiện mạng lưới giao thông quốc gia đến 2030

Bổ sung 5 tuyến cao tốc mới, hoàn thiện mạng lưới giao thông quốc gia đến 2030

Việc bổ sung 5 tuyến cao tốc mới vào quy hoạch quốc gia được kỳ vọng tạo đột phá kết nối vùng, đáp ứng nhu cầu vận tải tăng cao và mở rộng không gian phát triển kinh tế dài hạn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phấn đấu xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh vào năm 2030

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phấn đấu xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh vào năm 2030

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, đồng thời phấn đấu đến năm 2030 hình thành môi trường văn hóa số lành mạnh, giàu bản sắc Việt Nam.
Tổng điều tra kinh tế 2026: Doanh nghiệp dẫn dắt tăng trưởng, kinh tế cá thể lần đầu giảm lao động

Tổng điều tra kinh tế 2026: Doanh nghiệp dẫn dắt tăng trưởng, kinh tế cá thể lần đầu giảm lao động

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 cho thấy quy mô nền kinh tế Việt Nam tiếp tục mở rộng với gần 6,3 triệu đơn vị đang hoạt động. Khu vực doanh nghiệp duy trì đà tăng trưởng cả về số lượng và lao động, trong khi khu vực kinh tế cá thể lần đầu ghi nhận xu hướng giảm lao động, phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Tăng tốc giải ngân 4 chương trình mục tiêu quốc gia, siết trách nhiệm người đứng đầu

Tăng tốc giải ngân 4 chương trình mục tiêu quốc gia, siết trách nhiệm người đứng đầu

Chính phủ yêu cầu giải ngân 100% vốn năm 2026 cho bốn chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời siết chặt trách nhiệm người đứng đầu, đẩy nhanh tiến độ và hạn chế tình trạng chậm trễ kéo dài.
Tổng điều tra kinh tế năm 2026: Ứng dụng AI, số hóa toàn diện

Tổng điều tra kinh tế năm 2026: Ứng dụng AI, số hóa toàn diện

Với quy mô lớn nhất từ trước đến nay, Tổng điều tra kinh tế năm 2026 được triển khai trên phạm vi cả nước, huy động hơn 114.000 điều tra viên cùng hàng chục nghìn cán bộ tham gia. Cuộc điều tra ghi dấu nhiều đổi mới khi lần đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), bản đồ số và mở rộng thu thập thông tin đối với các cơ sở kinh doanh trực tuyến, tạo nền tảng dữ liệu quan trọng phục vụ hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Thu hút FDI công nghệ mở lối đưa Việt Nam thành trung tâm đổi mới sáng tạo châu Á

Thu hút FDI công nghệ mở lối đưa Việt Nam thành trung tâm đổi mới sáng tạo châu Á

Dòng vốn FDI đang dịch chuyển mạnh vào công nghệ, mở ra cơ hội để Việt Nam bứt phá, chuyển mình từ công xưởng sản xuất thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực.
Bộ Xây dựng siết tiến độ dự án giao thông, yêu cầu không lùi thời hạn hoàn thành

Bộ Xây dựng siết tiến độ dự án giao thông, yêu cầu không lùi thời hạn hoàn thành

Hàng loạt dự án giao thông trọng điểm đang chậm tiến độ thi công hoặc giải ngân vốn đầu tư công. Bộ Xây dựng yêu cầu các chủ đầu tư, ban quản lý dự án tăng cường chỉ đạo tại hiện trường, đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng công trình và kiên quyết không lùi thời hạn hoàn thành nếu không có nguyên nhân khách quan, chính đáng.
Nguyên Phó Thủ tướng Đức, cựu Đại sứ Mỹ hiến kế xây Trung tâm Tài chính Việt Nam

Nguyên Phó Thủ tướng Đức, cựu Đại sứ Mỹ hiến kế xây Trung tâm Tài chính Việt Nam

Cơ quan Điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) vừa chính thức công bố quyết định thành lập và ra mắt Tổ tư vấn chiến lược gồm 13 thành viên. Đây là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu thu hút dòng vốn toàn cầu, phát triển mạnh các lĩnh vực tài chính xanh, thị trường vốn và tài sản số.
Hải Phòng: Chủ tịch UBND thành phố kiểm tra tiến độ loạt dự án giao thông trọng điểm

Hải Phòng: Chủ tịch UBND thành phố kiểm tra tiến độ loạt dự án giao thông trọng điểm

Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Đỗ Thành Trung vừa trực tiếp kiểm tra hiện trường nhiều dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn, yêu cầu các đơn vị tập trung tháo gỡ khó khăn, tăng tốc thi công, bảo đảm tiến độ, chất lượng và giải ngân vốn đầu tư công theo kế hoạch.
Cộng hưởng ba bên thúc đẩy dòng vốn đầu tư tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam

Cộng hưởng ba bên thúc đẩy dòng vốn đầu tư tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam

Thông qua lễ ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa VIFC, MB và MBV, hệ sinh thái tài chính thế hệ mới tại TP. Hồ Chí Minh đã có bước chuyển động quan trọng. Sự hiện diện mở đường của Ngân hàng MBV tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam ở TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) không chỉ mang lại không gian vận hành hiện đại, mà còn mở ra cơ hội huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng quy mô lớn cho toàn khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.
Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng: Từ “siêu dự án” hạ tầng đến trục kinh tế huyết mạch miền Bắc

Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng: Từ “siêu dự án” hạ tầng đến trục kinh tế huyết mạch miền Bắc

Từng tạo nên bước ngoặt trong phát triển hạ tầng giao thông, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng sau hơn một thập kỷ vận hành đã trở thành tuyến kết nối chiến lược giữa Thủ đô và cửa ngõ hàng hải quốc tế phía Bắc. Trước tốc độ tăng trưởng vượt dự báo, tuyến đường đang đứng trước yêu cầu mở rộng để tiếp tục dẫn dắt dòng chảy kinh tế vùng.
Các định chế quốc tế đồng loạt nâng triển vọng kinh tế Việt Nam

Các định chế quốc tế đồng loạt nâng triển vọng kinh tế Việt Nam

Triển vọng kinh tế Việt Nam tiếp tục được các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá cao. Nhiều định chế như Bloomberg, UOB, DBS và ADB đã nâng hoặc duy trì mức dự báo tăng trưởng khả quan cho năm 2026, khẳng định vị thế của Việt Nam trong nhóm nền kinh tế tăng trưởng nhanh hàng đầu khu vực.
Dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam bất ngờ tăng mạnh

Dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam bất ngờ tăng mạnh

Động lực từ chuỗi sản xuất công nghệ cao, làn sóng dịch chuyển dòng vốn FDI và tiến độ đầu tư công được đẩy nhanh là cơ sở để ngân hàng này nâng dự báo thêm 1,5 điểm phần trăm.