Thứ ba 22/09/2026 04:59
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Sự yếu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

12/10/2020 00:00
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn, là đặc trưng của mọi nền kinh tế, chứ không là đặc thù riêng ở Việt Nam. Chất lượng phát triển DN của một nước thể hiện qua mức độ phát triển từ DNNVV thành DN lớn. Hạn chế lớn nhất ở nước ta l

Cái khó bó cái khôn

DNNVV ở Việt Nam phổ biến hoạt động trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sửa chữa, cung ứng dịch vụ phụ trợ đơn giản cho DN lớn, sản xuất nhỏ với công nghệ đơn giản… và thị trường tiềm năng còn rất hạn chế.

DNNVV luôn ở trong vòng lẩn quẩn của năng lực cạnh tranh thấp bởi thiếu vốn, nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp nên chậm đầu tư đổi mới công nghệ. Công nghệ lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất với giá trị gia tăng cao.

Mặt khác, DNNVV khá rời rạc, chưa kết nối sản xuất phụ trợ được với DN lớn. Trong mạng lưới liên kết giữa DN cùng ngành luôn hình thành hai nhóm: DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DN nhỏ giữ vai trò cung ứng phụ trợ.

Các DN lớn ở Việt Nam chưa tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. Các DN lớn cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để hỗ trợ công nghệ, vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

Sản xuất mật ong xuất khẩu. Ảnh: CAO THĂNG

Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI khác để thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các DN FDI.

Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là DN FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ, họ có thể sẽ di chuyển nhà máy đi bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn, hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Các ngành nghề trong nền kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, ngành này là đầu vào cho ngành khác. Trong mối quan hệ đó, luôn tồn tại nhóm DN dẫn dắt chuỗi cung ứng.

Do đó, nếu DNNVV của Việt Nam muốn phát triển quy mô kinh doanh cần phải tích hợp được vào chuỗi cung ứng đó. Tuy nhiên, năng lực cung ứng của DNNVV của Việt Nam còn nhiều hạn chế bởi nhu cầu sản phẩm phụ trợ chưa hướng đến DN trong nước. DN FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, số lượng và tiến độ giao hàng.

Vì vậy, họ thường đặt hàng với những đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử nên không hấp dẫn được DN trong nước đầu tư cải tiến công nghệ. Mặt khác, ngay cả các DN lớn trong nước cũng ngại đặt hàng các DN nội cung ứng cũng với lý do tương tự.

Nhiều chính sách hỗ trợ… chưa tới

DNNVV luôn là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế, DN lớn trong nước chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh với DN nước ngoài.

Khi DN nội gặp khó khăn trong việc tiếp cận chuỗi cung ứng toàn cầu, họ kỳ vọng nhận được cơ hội do Chính phủ kiến tạo. Mặc dù hiện nay Việt Nam đang thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập nước, ô nhiễm không khí...

Việc đầu tư các công trình này sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn giúp DNNVV phát triển, nhưng đối tượng hưởng lợi lớn từ các công trình này lại là các DN lớn, DN FDI. Mặt khác, lâu nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội địa, nhưng gần đây, nhiều hệ bán lẻ nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó là phân phối hàng hóa nhập khẩu.

Do vậy, DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng như xuất khẩu.

Mặt khác, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực, nghiên cứu công nghệ… còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng nguyện vọng của DN.

Chẳng hạn việc hỗ trợ kinh phí cho DNNVV tham gia xúc tiến thị trường, nhưng lại không có chính sách tạo lập thị trường thực cho DN; hỗ trợ nghiên cứu công nghệ cho các nhà khoa học với nhiều vấn đề không liên quan đến nhu cầu của DN; quy định về trích lập quỹ đổi mới công nghệ nhưng không có cơ chế hướng dẫn, tư vấn sử dụng quỹ cho đúng mục đích (phần lớn DN sử dụng quỹ này không đúng mục đích); quy định hỗ trợ kinh phí đào tạo cho DNNVV, nhưng không kết nối DN để thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của họ…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển DN chưa phát huy được hiệu ứng do thiếu tính cụ thể, thiếu cân nhắc đến tính khả thi liên quan đến điều kiện tiếp cận, tư vấn hỗ trợ DN tiếp cận, chưa thật sự kiến tạo cơ hội cho DN.

Cũng như chưa định hình rõ đối tượng đối tượng chủ yếu lan tỏa hiệu ứng chính sách, chưa hướng đến mối liên kết giữa DN lớn với DNNVV.

Liên kết để lớn lên DNNVV sẽ lớn nhanh khi tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu hoặc liên kết chặt chẽ với các DN lớn; đồng thời, cần sự trợ giúp từ hệ thống bán lẻ phân phối hàng hóa của họ. Cần thúc đẩy hình thành các mạng lưới liên kết giữa DN lớn giữ vai trò dẫn dắt - DNNVV giữ vai trò cung ứng phụ trợ. DN lớn chỉ đảm nhận tốt vai trò dẫn dắt khi tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, tích cực nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu, nghiên cứu công nghệ sản xuất, phát triển hệ thống cung ứng mang tính ổn định. Khi đó, DNNVV sẽ có được thị trường ổn định để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý để ngày càng lớn mạnh. Để thúc đẩy quá trình đó, trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia cần định hướng rõ vai trò của DN lớn dẫn dắt DNNVV trong từng nhóm ngành công nghiệp ưu tiên, trên các khía cạnh dẫn dắt về nhu cầu cung ứng phụ trợ, công nghệ, cơ sở hạ tầng sản xuất... Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV, chẳng hạn như DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ… Cạnh đó, cần kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu; trong đó, cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công hay công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí… Chính phủ cần ưu tiên huy động các DNNVV tham gia. Đồng thời có chính sách hỗ trợ đặc biệt về thị trường đầu ra cho DNNVV thông qua thúc đẩy phát triển các hệ thống phấn phối hàng hóa của DNNVV. Chính phủ phát triển các chương trình tiếp sức DNNVV về nâng cao năng lực quản lý chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và các quy chuẩn ngành. Nếu sản xuất không đạt tiêu chuẩn theo cam kết hội nhập thì hàng hóa của DNNVV chẳng những không xuất khẩu được mà còn không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. Cần huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/sản xuất, nhằm mục đích vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ. Đồng thời, định hướng các hiệp hội là nơi tổng hợp những vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN. Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp nhằm tạo vốn kinh doanh.

Thanh Điền

Tin bài khác
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

Cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng và lãnh đạo R3 Lithium mở ra câu chuyện lớn hơn về vật liệu pin và chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược. R3 Lithium cho biết doanh nghiệp quan tâm khả năng hợp tác với các đối tác Việt Nam trong chuyển đổi xanh, đặc biệt ở công nghệ pin, tái chế và xử lý khoáng sản thiết yếu.
TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

Tại Kỳ họp thứ 5 (Kỳ họp chuyên đề)HĐND thành phố yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, ngân sách và đất đai được đặt song song với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mở rộng không gian và tạo động lực phát triển mới cho thành phố.
Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Việc Việt Nam được dự báo vượt mốc 2.000 tỷ USD GDP tính theo sức mua tương đương (PPP), vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á và lọt nhóm 22 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy quy mô thị trường và sức nặng của nền kinh tế đang gia tăng. Tuy nhiên, phía sau cột mốc đáng chú ý ấy còn là bài toán về năng suất, thu nhập bình quân đầu người và chất lượng tăng trưởng.
Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Dư nợ tín dụng đã vượt 20 triệu tỷ đồng, nhưng nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn lớn hơn nhiều. Khi các dự án hạ tầng, đô thị và sản xuất cần nguồn vốn trung, dài hạn, nền kinh tế phải mở thêm những kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.
Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Đề xuất cơ chế 2 bước công nhận khu kinh tế đặc biệt

Bộ Tài chính đề xuất việc công nhận khu kinh tế đặc biệt được thực hiện theo cơ chế đánh giá hai bước: địa bàn phải đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện đầu vào, sau đó đạt từ 90/100 điểm theo 5 nhóm tiêu chí mới được xem xét công nhận.
Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Hải Phòng bàn giải pháp nâng sức chống chịu của sản xuất trong nước

Trước những biến động ngày càng lớn của thương mại toàn cầu, Diễn đàn Phòng vệ thương mại 2026 tại Hải Phòng đặt trọng tâm vào nâng năng lực sản xuất, cảnh báo sớm rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó hiệu quả.
Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Rà soát pháp luật để khơi thông nguồn lực cho kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Bộ Tài chính đang đẩy mạnh tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các cơ chế phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch VINASME Nguyễn Văn Thân đề xuất mở thêm kênh vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) Nguyễn Văn Thân đề xuất một loạt giải pháp nhằm mở rộng chủ thể cung ứng vốn, khai thác dòng tiền và các tài sản hình thành trong quá trình kinh doanh.
Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa đang phục hồi tích cực nhưng cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về phân phối, logistics và sức cạnh tranh để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

Điều lệ mới xác lập cơ chế tổ chức và hoạt động của Liên minh Hợp tác xã TP. Hồ Chí Minh sau hợp nhất, đồng thời mở rộng không gian hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn Thành phố.