Thứ ba 03/02/2026 09:32
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dự thảo “Made in VietNam”- Công cụ đấu tranh phòng chống gian lận thương mại

12/10/2020 00:00
Với Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ”, tránh được rủi ro kiện tụng

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh

Làm rõ hơn sự cần thiết phải ban hành Thông tư, sau đó là về nội dung của Thông tư và về các tác động có thể của Thông tư đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cùng đại diện các Cục, Vụ trực thuộc Bộ trong buổi trao đổi với báo chí để giải thích và làm rõ hơn nội dung của Dự thảo Thông tư.

Dưới đây là nội dung trao đổi giữa đại diện Bộ Công Thương và các phóng viên, nhà báo về Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam:

Vì sao tới bây giờ Bộ Công Thương mới đưa ra quy định về cách xác định thế nào là hàng sản xuất tại Việt Nam?

Trên thực tế, theo đúng chức năng và phạm vi quản lý nhà nước, Bộ Công Thương đã ban hành nhiều văn bản quy định như thế nào thì một sản phẩm/hàng hóa được coi là sản phẩm/hàng hóa của Việt Nam, hay nói cách khác là có xuất xứ Việt Nam.

Tuy nhiên, các quy định này chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu, giúp hàng hóa của ta được hưởng ưu đãi thuế khi đi vào các thị trường ngoài hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương.

Với hàng hóa sản xuất và sau đó lưu thông trong nước, việc ghi nước xuất xứ được thực hiện theo Nghị định số 43/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Đây là lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ, không phải của Bộ Công Thương.

Những quy định chính trong dự thảo Thông tư là gì?

Dự thảo Thông tư bao gồm một số nội dung chính như sau:

- Các điều khoản chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và giải thích các thuật ngữ sử dụng trong Thông tư;

- Các trường hợp được phép và không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam, cách thức và ngôn ngữ thể hiện;

- Các trường hợp, tiêu chí để hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam;

- Các quy định khác liên quan đến việc xác định hàng hóa của Việt Nam (gia công đơn giản, bao bì phụ kiện, tỷ lệ linh hoạt, yếu tố gián tiếp);

- Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa và tổ chức thực hiện.

Trường hợp nào thì hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam?

Hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trong 2 trường hợp sau:

- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Thông tư.

- Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy định tại Điều 9 của Thông tư.

Tại sao trong ASEAN hàng hóa phải đạt hàm lượng giá trị gia tăng là 40% mới được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ mà tại Thông tư này, chỉ cần hàm lượng 30% đã được coi là hàng hóa Việt Nam?

Trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác, hàm lượng giá trị gia tăng được gọi "hàm lượng giá trị khu vực" (RVC). Tên gọi này đã thể hiện tính chất "khu vực" của quy tắc xuất xứ, tức là cho phép cộng gộp xuất xứ của các nước thành viên.

Ví dụ, với RVC 40% trong ASEAN thì 1 sản phẩm có 20% giá trị của Thái Lan, 10% của Philippines, 5% của Lào và 5% của Việt Nam sẽ được coi là đạt tiêu chí xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D. Thông tư này quy định chặt hơn. Cụ thể, tỷ lệ giá trị gia tăng 30% nêu tại Thông tư là chỉ tính riêng giá trị của Việt Nam.

Với quy định như tại dự thảo Thông tư, nhiều sản phẩm có thể đáp ứng xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D nhưng chưa chắc đã đủ điều kiện để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, có phải cứ đạt hàm lượng giá trị gia tăng trên 30% là được coi là hàng hóa của Việt Nam?

Không nhất thiết. Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy chỉ được coi là hàng Việt Nam khi khâu sản xuất, chế biến cuối cùng diễn ra tại Việt Nam và khâu đó phải làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa, không phải là gia công, chế biến đơn giản như quy định tại Điều 10 của dự thảo Thông tư.

Tại phụ lục các danh mục hàng hóa kèm theo dự thảo Thông tư, Bộ Công Thương liệt kê các mặt hàng, trong đó hầu hết phải đạt tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa 30% (một số ít sản phẩm 40%). Như vậy ngoài việc phải đảm bảo công đoạn cuối cùng không phải là công đoạn đơn giản, thì đây là tỷ lệ tối thiểu giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm nếu muốn được công nhận, dán mác hàng sản xuất tại Việt Nam?

Đối với một mặt hàng cụ thể, nếu tiêu chí xác định "hàng hóa của Việt Nam" là VAC 30% thì 30% là ngưỡng thấp nhất mà VAC của hàng hóa đó phải đạt được để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Thông tư có đặt ra thủ tục hành chính nào buộc doanh nghiệp phải tuân thủ hay không?

Dự thảo Thông tư không quy định bất kỳ một thủ tục hành chính mới nào mà doanh nghiệp phải tuân thủ.

Thực hiện quy định của Thông tư có làm doanh nghiệp phát sinh thêm chi phí gì không?

Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định 43/2017/NĐ-CP. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Với Thông tư này, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc "gian lận xuất xứ", tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp với việc thực thi nghiêm túc Nghị định 43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm "đội lốt" hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Doanh nghiệp lo ngại về việc tự xác định và ghi nhãn "Sản xuất tại Việt Nam" không biết có đảm bảo chính xác không. Bộ Công Thương có tính đến khả năng Nhà nước có cơ quan đứng ra đánh giá và cấp giấy công nhận để họ yên tâm?

Ban soạn thảo chưa bao giờ tính đến khả năng này bởi cơ chế "đánh giá - công nhận" sẽ thực sự là gánh nặng cho cả doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý. Thông tư này, nếu được ban hành, sẽ do doanh nghiệp tự giác thực hiện. Nhà nước chỉ sử dụng Thông tư để phân xử đúng - sai khi xuất hiện tình huống đòi hỏi phải có sự phân xử đúng - sai, thí dụ như vụ Khaisilk trước đây.

Các sản phẩm từ trước tới nay vẫn được dán nhãn “Made in Viet Nam” hay sử dụng danh xưng "hàng Việt Nam" sẽ được ứng xử ra sao?

Kể từ ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, việc thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa phải tuân thủ các quy định của Thông tư, không có ngoại lệ.

Dự thảo Thông tư mới đưa ra các tiêu chí xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam hay sản xuất tại Việt Nam. Tại sao không đề cập đến các khái niệm như "Lắp ráp tại Việt Nam", hay "Sản xuất bởi [công ty nào đó]", hay "Thiết kế tại Việt Nam", hay "Thiết kế bởi [công ty nào đó]"? Một sản phẩm không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa Việt Nam sẽ ghi xuất xứ của nước nào nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau?

Ban soạn thảo đã dự thảo 1 điều khoản đề cập đến các khái niệm này để giúp doanh nghiệp có thêm các hình thức thể hiện trong trường hợp hàng hóa không đáp ứng được các tiêu chí để được coi là hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, do Điều 15 của Nghị định 43/2017 không cho phép doanh nghiệp được sử dụng các cụm từ này, Thông tư lại là văn bản dưới cấp Nghị định nên Ban soạn thảo đã phải bỏ điều khoản này ra. Cho tới nay, chúng tôi cũng chưa rõ Bộ Tư pháp có chấp nhận Điều 4 của dự thảo Thông tư hay không bởi Điều này đưa ra các quy định rộng hơn so với Điều 15 của Nghị định 43/2017.

Vấn đề hình thức văn bản là một trong những vấn đề gây tranh luận trong quá trình trao đổi về sự cần thiết phải ban hành một văn bản quy phạm pháp luật giúp xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Ban soạn thảo nhận thấy nên ban hành ở cấp Nghị định nhưng một số cơ quan khác lại không cho là như vậy. Họ không sai bởi Nghị định chỉ dùng để hướng dẫn luật trong khi chúng ta lại chưa có luật về thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Nếu ban hành Nghị định thì sẽ là một Nghị định "không đầu", điều không được luật pháp hiện hành cho phép.

Xuất phát từ đây, nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau, sản phẩm cuối cùng lại không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa của Việt Nam thì doanh nghiệp sẽ thể hiện xuất xứ theo quy định của Nghị định 43/2017, tức là tự xác định và tự chịu trách nhiệm, miễn là đừng ghi xuất xứ Việt Nam.

Các trường hợp vi phạm quy định của Thông tư sẽ áp dụng chế tài như thế nào?

Theo quy định tại Dự thảo, Tổng cục Quản lý thị trường là đơn vị chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Công Thương và các cơ quan có thẩm quyền khác tổ chức thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm trong quá trình thực thi Thông tư này. Trường hợp phát hiện vi phạm, Tổng cục Quản lý thị trường và các cơ quan có thẩm quyền khác sẽ tùy theo mức độ vi phạm để đưa ra chế tài xử lý phù hợp với quy định của pháp luật.

Bộ Công Thương sẽ làm gì để doanh nghiệp, người dân cũng như các cơ quan quản lý liên quan hiểu được mục tiêu của Bộ Công Thương cũng như các quy định của Thông tư này?

Việc đăng tải Dự thảo Thông tư là bước đầu tiên. Sau đó Bộ Công Thương sẽ tổ chức các buổi hội thảo giới thiệu dự thảo và xin ý kiến các hiệp hội, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có liên quan về các quy định tại dự thảo.

Bộ Công Thương cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông để giải thích, làm rõ về mục tiêu ban hành Thông tư cũng như những nội dung mang tính kỹ thuật để doanh nghiệp, người dân có thể hiểu và góp ý được sát thực nhất.

Thu Giang – Thảo Trang (lược ghi)

Tin bài khác
Hải Phòng: Kinh tế – xã hội tháng 1/2026 khởi sắc, tạo đà bứt phá cho năm “Kỷ nguyên mới”

Hải Phòng: Kinh tế – xã hội tháng 1/2026 khởi sắc, tạo đà bứt phá cho năm “Kỷ nguyên mới”

Bước sang năm 2026 – năm bản lề mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và triển khai các chiến lược phát triển dài hạn – Hải Phòng đã khởi động bằng một tháng đầu năm đầy khí thế. Với tinh thần “Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”, thành phố Cảng không chỉ ghi nhận những con số tăng trưởng ấn tượng, mà còn lan tỏa một tâm thế phát triển mới: tự tin, quyết liệt và sẵn sàng bứt phá.
Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông: Tăng trưởng GRDP của Phú Thọ 2025 đạt 10,52%, thuộc nhóm cao nhất nước

Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông: Tăng trưởng GRDP của Phú Thọ 2025 đạt 10,52%, thuộc nhóm cao nhất nước

Sau sáp nhập ba tỉnh, Phú Thọ ghi nhận tăng trưởng cao, thu hút mạnh vốn FDI và nội địa, cải cách hành chính quyết liệt, khẳng định vai trò tăng trưởng mới miền Bắc.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bảo đảm chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho người lao động

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu bảo đảm chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho người lao động

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương theo dõi sát tình hình lao động – việc làm, đôn đốc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ lương, thưởng Tết; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, ổn định thị trường và đời sống Nhân dân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
Ngành sản xuất khởi sắc đầu năm, PMI duy trì tăng trưởng 7 tháng liên tiếp

Ngành sản xuất khởi sắc đầu năm, PMI duy trì tăng trưởng 7 tháng liên tiếp

Ngành sản xuất Việt Nam mở đầu năm 2026 với những tín hiệu tích cực khi sản lượng, đơn hàng mới và việc làm tiếp tục gia tăng. Đáng chú ý, niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp lên mức cao nhất trong gần hai năm, phản ánh kỳ vọng lạc quan về triển vọng sản xuất trong thời gian tới.
Hà Nội khởi công hai đại đô thị gần 1.400 ha phía Bắc

Hà Nội khởi công hai đại đô thị gần 1.400 ha phía Bắc

Hà Nội khởi công hai khu đô thị đa mục tiêu Bắc Thăng Long Urban City và Thư Lâm – Đông Anh với tổng quy mô gần 1.400 ha, đáp ứng chỗ ở cho hơn 440.000 người, định hình mô hình đô thị xanh, thông minh, bền vững.
Kiến nghị Bộ Y tế làm đầu mối tháo gỡ vướng mắc Nghị định 46

Kiến nghị Bộ Y tế làm đầu mối tháo gỡ vướng mắc Nghị định 46

Sau khi Nghị định 46 có hiệu lực, nhiều khó khăn nảy sinh trong kiểm tra an toàn thực phẩm hàng nhập khẩu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất giao Bộ Y tế chủ trì hướng dẫn, đồng thời sớm sửa đổi quy định cho phù hợp với thực tiễn.
Ưu đãi thuế, vốn và nhân lực: Công nghệ cao thành trụ cột tăng trưởng mới

Ưu đãi thuế, vốn và nhân lực: Công nghệ cao thành trụ cột tăng trưởng mới

Luật Công nghệ cao được thông qua, có hiệu lực từ 1/7/2026, bổ sung loạt ưu đãi thuế, tài trợ R&D, đầu tư phòng thí nghiệm dùng chung và chính sách thu hút nhân lực công nghệ chiến lược.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế thuê giám đốc doanh nghiệp Nhà nước

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế thuê giám đốc doanh nghiệp Nhà nước

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giao Bộ Nội vụ xây dựng cơ chế thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc, tổng giám đốc trong doanh nghiệp Nhà nước, nhằm thu hút nhân tài, nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong bối cảnh mới.
Mục tiêu 50 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2030

Mục tiêu 50 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2030

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết 79, yêu cầu hành động nhanh, tháo gỡ điểm nghẽn, xây dựng doanh nghiệp nhà nước quy mô khu vực và toàn cầu.
Từ châu Á sang châu Phi, EU: Bộ Công Thương mở rộng “bản đồ” cho gạo Việt năm 2026

Từ châu Á sang châu Phi, EU: Bộ Công Thương mở rộng “bản đồ” cho gạo Việt năm 2026

Xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2025 đạt 8,06 triệu tấn, kim ngạch 4,1 tỷ USD, giảm mạnh do nhu cầu suy yếu và cạnh tranh toàn cầu. Năm 2026, Bộ Công Thương đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, mở rộng thị trường, thúc đẩy gạo chất lượng cao.
Hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, khu vực tư nhân bứt tốc

Hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, khu vực tư nhân bứt tốc

Làn sóng gia nhập thị trường tăng mạnh ngay những ngày đầu năm 2026, đưa tổng số doanh nghiệp đang hoạt động vượt mốc một triệu. Đằng sau con số này là hiệu ứng rõ nét từ các chính sách “cởi trói” thể chế, cắt giảm thủ tục và giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm không gian phát triển cho kinh tế tư nhân – khu vực đang đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng, ngân sách và đầu tư xã hội.
Hội nghị Công nghệ WCO 2026: Hải quan toàn cầu tìm lời giải cho thế giới nhiều biến động

Hội nghị Công nghệ WCO 2026: Hải quan toàn cầu tìm lời giải cho thế giới nhiều biến động

Diễn ra từ ngày 28–30/01/2026 tại Abu Dhabi (UAE), Hội nghị và Triển lãm Công nghệ của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong việc giúp các cơ quan Hải quan nâng cao năng lực thích ứng, bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu trong bối cảnh chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp.
Bí thư Đặc khu Phú Quốc: Tạo điều kiện tốt nhất để người dân giao đất xây dự án APEC

Bí thư Đặc khu Phú Quốc: Tạo điều kiện tốt nhất để người dân giao đất xây dự án APEC

Theo ông Lê Quốc Anh, APEC 2027 là sự kiện chính trị quan trọng và giúp Phú Quốc phát triển bền vững kinh tế, du lịch. Trong công tác thu hồi đất, địa phương luôn đảm bảo lợi ích của người dân.
Việt Nam cần hơn 77 tỷ USD cho ngành năng lượng giai đoạn 2026-2030

Việt Nam cần hơn 77 tỷ USD cho ngành năng lượng giai đoạn 2026-2030

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đồng thời thực hiện các cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng được xác định là ưu tiên chiến lược hàng đầu. Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy năng lượng tái tạo và tháo gỡ điểm nghẽn về vốn đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn 2026-2030.
Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, điện gió ngoài khơi cùng hệ thống lưu trữ năng lượng được kỳ vọng trở thành trụ cột mới của ngành điện Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng hàng trăm GW, yếu tố quyết định vẫn là khung chính sách ổn định, dài hạn và đủ sức hấp dẫn dòng vốn quy mô lớn, đặc biệt từ nhà đầu tư quốc tế.