Thứ ba 13/01/2026 09:08
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dự thảo “Made in VietNam”- Công cụ đấu tranh phòng chống gian lận thương mại

12/10/2020 00:00
Với Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ”, tránh được rủi ro kiện tụng

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh

Làm rõ hơn sự cần thiết phải ban hành Thông tư, sau đó là về nội dung của Thông tư và về các tác động có thể của Thông tư đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cùng đại diện các Cục, Vụ trực thuộc Bộ trong buổi trao đổi với báo chí để giải thích và làm rõ hơn nội dung của Dự thảo Thông tư.

Dưới đây là nội dung trao đổi giữa đại diện Bộ Công Thương và các phóng viên, nhà báo về Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam:

Vì sao tới bây giờ Bộ Công Thương mới đưa ra quy định về cách xác định thế nào là hàng sản xuất tại Việt Nam?

Trên thực tế, theo đúng chức năng và phạm vi quản lý nhà nước, Bộ Công Thương đã ban hành nhiều văn bản quy định như thế nào thì một sản phẩm/hàng hóa được coi là sản phẩm/hàng hóa của Việt Nam, hay nói cách khác là có xuất xứ Việt Nam.

Tuy nhiên, các quy định này chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu, giúp hàng hóa của ta được hưởng ưu đãi thuế khi đi vào các thị trường ngoài hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương.

Với hàng hóa sản xuất và sau đó lưu thông trong nước, việc ghi nước xuất xứ được thực hiện theo Nghị định số 43/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Đây là lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ, không phải của Bộ Công Thương.

Những quy định chính trong dự thảo Thông tư là gì?

Dự thảo Thông tư bao gồm một số nội dung chính như sau:

- Các điều khoản chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và giải thích các thuật ngữ sử dụng trong Thông tư;

- Các trường hợp được phép và không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam, cách thức và ngôn ngữ thể hiện;

- Các trường hợp, tiêu chí để hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam;

- Các quy định khác liên quan đến việc xác định hàng hóa của Việt Nam (gia công đơn giản, bao bì phụ kiện, tỷ lệ linh hoạt, yếu tố gián tiếp);

- Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa và tổ chức thực hiện.

Trường hợp nào thì hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam?

Hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trong 2 trường hợp sau:

- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Thông tư.

- Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy định tại Điều 9 của Thông tư.

Tại sao trong ASEAN hàng hóa phải đạt hàm lượng giá trị gia tăng là 40% mới được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ mà tại Thông tư này, chỉ cần hàm lượng 30% đã được coi là hàng hóa Việt Nam?

Trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác, hàm lượng giá trị gia tăng được gọi "hàm lượng giá trị khu vực" (RVC). Tên gọi này đã thể hiện tính chất "khu vực" của quy tắc xuất xứ, tức là cho phép cộng gộp xuất xứ của các nước thành viên.

Ví dụ, với RVC 40% trong ASEAN thì 1 sản phẩm có 20% giá trị của Thái Lan, 10% của Philippines, 5% của Lào và 5% của Việt Nam sẽ được coi là đạt tiêu chí xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D. Thông tư này quy định chặt hơn. Cụ thể, tỷ lệ giá trị gia tăng 30% nêu tại Thông tư là chỉ tính riêng giá trị của Việt Nam.

Với quy định như tại dự thảo Thông tư, nhiều sản phẩm có thể đáp ứng xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D nhưng chưa chắc đã đủ điều kiện để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, có phải cứ đạt hàm lượng giá trị gia tăng trên 30% là được coi là hàng hóa của Việt Nam?

Không nhất thiết. Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy chỉ được coi là hàng Việt Nam khi khâu sản xuất, chế biến cuối cùng diễn ra tại Việt Nam và khâu đó phải làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa, không phải là gia công, chế biến đơn giản như quy định tại Điều 10 của dự thảo Thông tư.

Tại phụ lục các danh mục hàng hóa kèm theo dự thảo Thông tư, Bộ Công Thương liệt kê các mặt hàng, trong đó hầu hết phải đạt tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa 30% (một số ít sản phẩm 40%). Như vậy ngoài việc phải đảm bảo công đoạn cuối cùng không phải là công đoạn đơn giản, thì đây là tỷ lệ tối thiểu giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm nếu muốn được công nhận, dán mác hàng sản xuất tại Việt Nam?

Đối với một mặt hàng cụ thể, nếu tiêu chí xác định "hàng hóa của Việt Nam" là VAC 30% thì 30% là ngưỡng thấp nhất mà VAC của hàng hóa đó phải đạt được để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Thông tư có đặt ra thủ tục hành chính nào buộc doanh nghiệp phải tuân thủ hay không?

Dự thảo Thông tư không quy định bất kỳ một thủ tục hành chính mới nào mà doanh nghiệp phải tuân thủ.

Thực hiện quy định của Thông tư có làm doanh nghiệp phát sinh thêm chi phí gì không?

Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định 43/2017/NĐ-CP. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Với Thông tư này, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc "gian lận xuất xứ", tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp với việc thực thi nghiêm túc Nghị định 43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm "đội lốt" hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Doanh nghiệp lo ngại về việc tự xác định và ghi nhãn "Sản xuất tại Việt Nam" không biết có đảm bảo chính xác không. Bộ Công Thương có tính đến khả năng Nhà nước có cơ quan đứng ra đánh giá và cấp giấy công nhận để họ yên tâm?

Ban soạn thảo chưa bao giờ tính đến khả năng này bởi cơ chế "đánh giá - công nhận" sẽ thực sự là gánh nặng cho cả doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý. Thông tư này, nếu được ban hành, sẽ do doanh nghiệp tự giác thực hiện. Nhà nước chỉ sử dụng Thông tư để phân xử đúng - sai khi xuất hiện tình huống đòi hỏi phải có sự phân xử đúng - sai, thí dụ như vụ Khaisilk trước đây.

Các sản phẩm từ trước tới nay vẫn được dán nhãn “Made in Viet Nam” hay sử dụng danh xưng "hàng Việt Nam" sẽ được ứng xử ra sao?

Kể từ ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, việc thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa phải tuân thủ các quy định của Thông tư, không có ngoại lệ.

Dự thảo Thông tư mới đưa ra các tiêu chí xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam hay sản xuất tại Việt Nam. Tại sao không đề cập đến các khái niệm như "Lắp ráp tại Việt Nam", hay "Sản xuất bởi [công ty nào đó]", hay "Thiết kế tại Việt Nam", hay "Thiết kế bởi [công ty nào đó]"? Một sản phẩm không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa Việt Nam sẽ ghi xuất xứ của nước nào nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau?

Ban soạn thảo đã dự thảo 1 điều khoản đề cập đến các khái niệm này để giúp doanh nghiệp có thêm các hình thức thể hiện trong trường hợp hàng hóa không đáp ứng được các tiêu chí để được coi là hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, do Điều 15 của Nghị định 43/2017 không cho phép doanh nghiệp được sử dụng các cụm từ này, Thông tư lại là văn bản dưới cấp Nghị định nên Ban soạn thảo đã phải bỏ điều khoản này ra. Cho tới nay, chúng tôi cũng chưa rõ Bộ Tư pháp có chấp nhận Điều 4 của dự thảo Thông tư hay không bởi Điều này đưa ra các quy định rộng hơn so với Điều 15 của Nghị định 43/2017.

Vấn đề hình thức văn bản là một trong những vấn đề gây tranh luận trong quá trình trao đổi về sự cần thiết phải ban hành một văn bản quy phạm pháp luật giúp xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Ban soạn thảo nhận thấy nên ban hành ở cấp Nghị định nhưng một số cơ quan khác lại không cho là như vậy. Họ không sai bởi Nghị định chỉ dùng để hướng dẫn luật trong khi chúng ta lại chưa có luật về thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Nếu ban hành Nghị định thì sẽ là một Nghị định "không đầu", điều không được luật pháp hiện hành cho phép.

Xuất phát từ đây, nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau, sản phẩm cuối cùng lại không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa của Việt Nam thì doanh nghiệp sẽ thể hiện xuất xứ theo quy định của Nghị định 43/2017, tức là tự xác định và tự chịu trách nhiệm, miễn là đừng ghi xuất xứ Việt Nam.

Các trường hợp vi phạm quy định của Thông tư sẽ áp dụng chế tài như thế nào?

Theo quy định tại Dự thảo, Tổng cục Quản lý thị trường là đơn vị chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Công Thương và các cơ quan có thẩm quyền khác tổ chức thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm trong quá trình thực thi Thông tư này. Trường hợp phát hiện vi phạm, Tổng cục Quản lý thị trường và các cơ quan có thẩm quyền khác sẽ tùy theo mức độ vi phạm để đưa ra chế tài xử lý phù hợp với quy định của pháp luật.

Bộ Công Thương sẽ làm gì để doanh nghiệp, người dân cũng như các cơ quan quản lý liên quan hiểu được mục tiêu của Bộ Công Thương cũng như các quy định của Thông tư này?

Việc đăng tải Dự thảo Thông tư là bước đầu tiên. Sau đó Bộ Công Thương sẽ tổ chức các buổi hội thảo giới thiệu dự thảo và xin ý kiến các hiệp hội, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có liên quan về các quy định tại dự thảo.

Bộ Công Thương cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông để giải thích, làm rõ về mục tiêu ban hành Thông tư cũng như những nội dung mang tính kỹ thuật để doanh nghiệp, người dân có thể hiểu và góp ý được sát thực nhất.

Thu Giang – Thảo Trang (lược ghi)

Tin bài khác
Ngoại giao kinh tế Khánh Hòa năm 2025: Đổi mới, hiệu quả và kết nối toàn cầu

Ngoại giao kinh tế Khánh Hòa năm 2025: Đổi mới, hiệu quả và kết nối toàn cầu

Khánh Hòa đạt nhiều thành tựu trong ngoại giao kinh tế năm 2025, với kết quả nổi bật về thu hút FDI, xúc tiến thương mại và kết nối với kiều bào quốc tế.
Lâm Đồng: Doanh nghiệp 600 tỷ đồng “đón sóng” đầu tư sân bay Phan Thiết

Lâm Đồng: Doanh nghiệp 600 tỷ đồng “đón sóng” đầu tư sân bay Phan Thiết

Một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hạ tầng hàng không vừa được thành lập tại Phan Thiết, chỉ ít ngày sau khi UBND tỉnh Lâm Đồng chấp thuận chủ trương đầu tư hạng mục hàng không dân dụng của dự án Cảng hàng không Phan Thiết.
Tây Ninh: Năm 2025 nhiều điểm sáng, tạo đà tăng trưởng cho chặng đường mới

Tây Ninh: Năm 2025 nhiều điểm sáng, tạo đà tăng trưởng cho chặng đường mới

Năm 2025, Tây Ninh ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9,52%, thu ngân sách vượt hơn 40% dự toán và hàng loạt chỉ tiêu kinh tế – xã hội hoàn thành đúng kế hoạch. Những kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi rõ nét của nền kinh tế địa phương, mà còn tạo nền tảng quan trọng để Tây Ninh hướng tới mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026.
Lâm Đồng: Quyết liệt giải phóng mặt bằng để tăng tốc dự án

Lâm Đồng: Quyết liệt giải phóng mặt bằng để tăng tốc dự án

Ngày 11/1/2026, Đoàn công tác của Bộ Xây dựng do Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Trần Hồng Minh dẫn đầu đã có buổi làm việc quan trọng với UBND tỉnh Lâm Đồng. Trọng tâm buổi làm việc xoay quanh các vấn đề cấp thiết về quy hoạch đô thị, phát triển nhà ở xã hội và đặc biệt là chiến lược đột phá hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng.
Từ miền đất Trạng Trình đến xã nông thôn mới kiểu mẫu: Hành trình bứt phá của xã Nguyễn Bỉnh Khiêm

Từ miền đất Trạng Trình đến xã nông thôn mới kiểu mẫu: Hành trình bứt phá của xã Nguyễn Bỉnh Khiêm

Năm 2025 đi qua với dấu ấn đặc biệt trong lịch sử phát triển của xã Nguyễn Bỉnh Khiêm – đơn vị hành chính mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba xã Lý Học, Hòa Bình và Trấn Dương. Từ những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ về tổ chức bộ máy, điều hành và tâm thế cộng đồng, đến nay, xã Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng bước ổn định, khẳng định vị thế, tạo dựng niềm tin và mở ra không gian phát triển mới.
Bộ Tài chính siết bình ổn giá, chống buôn lậu dịp Tết Bính Ngọ 2026

Bộ Tài chính siết bình ổn giá, chống buôn lậu dịp Tết Bính Ngọ 2026

Bộ Tài chính yêu cầu toàn ngành theo dõi sát giá cả thị trường, tăng cường bình ổn hàng thiết yếu và kiểm soát lạm phát dịp Tết Bính Ngọ 2026. Cao điểm chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo đảm an sinh và ổn định đời sống người dân.
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia: Định hình không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới đến năm 2050

Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia: Định hình không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới đến năm 2050

Việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia nhằm cập nhật yêu cầu phát triển mới của đất nước trong bối cảnh kinh tế – xã hội và môi trường quốc tế có nhiều biến động, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Hải Phòng bước vào năm 2026: Quyết liệt hành động, bứt phá bằng kết quả thực chất

Hải Phòng bước vào năm 2026: Quyết liệt hành động, bứt phá bằng kết quả thực chất

Ngày 9/1/2026, tại Hội nghị tổng kết nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thu – chi ngân sách, giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do UBND thành phố Hải Phòng tổ chức, Bí thư Thành ủy nhấn mạnh năm 2026 là năm của hành động, lấy kết quả làm thước đo, quyết tâm duy trì tăng trưởng hai con số và tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu nhiệm kỳ mới.
Đà Nẵng: Công bố Nghị quyết số 259/2025/QH15 tạo đột phá thể chế, thúc đẩy thu hút đầu tư năm 2026

Đà Nẵng: Công bố Nghị quyết số 259/2025/QH15 tạo đột phá thể chế, thúc đẩy thu hút đầu tư năm 2026

Chiều ngày 09/01/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã long trọng tổ chức Hội nghị Công bố Nghị quyết số 259/2025/QH15 của Quốc hội và Xúc tiến đầu tư vào thành phố Đà Nẵng năm 2026
Tây Ninh năm thứ hai liên tiếp vào Top 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn

Tây Ninh năm thứ hai liên tiếp vào Top 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn

Với môi trường đầu tư ngày càng minh bạch và năng lực điều hành kinh tế được cải thiện rõ nét, Tây Ninh được Vietnam Report vinh danh trong Top 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn năm 2025. Đây là năm thứ hai liên tiếp địa phương này có tên trong bảng xếp hạng, cho thấy sức bật ổn định của khu vực doanh nghiệp và vai trò ngày càng rõ trong tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Liên hợp quốc: Kinh tế toàn cầu duy trì đà phục hồi nhưng tăng trưởng vẫn dưới ngưỡng trước đại dịch

Liên hợp quốc: Kinh tế toàn cầu duy trì đà phục hồi nhưng tăng trưởng vẫn dưới ngưỡng trước đại dịch

Mặc dù các điều kiện kinh tế toàn cầu đang dần ổn định hơn nhờ lạm phát hạ nhiệt và chính sách tiền tệ nới lỏng, Liên hợp quốc nhận định tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm 2026 vẫn diễn ra chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro từ căng thẳng thương mại, nợ công cao và bất ổn địa chính trị.
Bộ Y tế quy định mới về kê đơn thuốc cổ truyền

Bộ Y tế quy định mới về kê đơn thuốc cổ truyền

Bộ Y tế ban hành Thông tư mới siết chặt và chuẩn hóa việc kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp với thuốc hóa dược trong khám chữa bệnh. Quy định này mở đường cho y học cổ truyền phát triển bài bản, an toàn, gắn kết chặt chẽ với y học hiện đại và xu hướng chăm sóc sức khỏe bền vững.
Giữ nguyên mô hình Văn phòng đăng ký đất đai

Giữ nguyên mô hình Văn phòng đăng ký đất đai

Tiếp tục giữ nguyên mô hình Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc cấp tỉnh, theo Văn bản hợp nhất Nghị định 90 Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành nhằm bảo đảm thông suốt thủ tục nhà đất, tránh xáo trộn tổ chức và áp lực ngân sách.
Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về tăng trưởng kinh tế

Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về tăng trưởng kinh tế

Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn nổi bật của kinh tế khi toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu đều hoàn thành và vượt kế hoạch. Tăng trưởng GDP ước đạt 8,02%, thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động. Đây là thông tin được Bộ Tài chính báo cáo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc với chính quyền địa phương, diễn ra sáng 8/1, nhằm đánh giá kết quả năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
Kỳ vọng mới sau Đại hội Công đoàn TP. HCM

Kỳ vọng mới sau Đại hội Công đoàn TP. HCM

Đại hội Công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030 khép lại không chỉ bằng những con số, nghị quyết hay phương châm hành động, mà quan trọng hơn, bằng kỳ vọng rất lớn của hơn 2,3 triệu đoàn viên, người lao động đang làm việc, sinh sống trên địa bàn thành phố lớn nhất cả nước.