Thứ hai 15/06/2026 21:38
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Dự thảo “Made in VietNam”- Công cụ đấu tranh phòng chống gian lận thương mại

12/10/2020 00:00
Với Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ”, tránh được rủi ro kiện tụng

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh

Làm rõ hơn sự cần thiết phải ban hành Thông tư, sau đó là về nội dung của Thông tư và về các tác động có thể của Thông tư đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cùng đại diện các Cục, Vụ trực thuộc Bộ trong buổi trao đổi với báo chí để giải thích và làm rõ hơn nội dung của Dự thảo Thông tư.

Dưới đây là nội dung trao đổi giữa đại diện Bộ Công Thương và các phóng viên, nhà báo về Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam:

Vì sao tới bây giờ Bộ Công Thương mới đưa ra quy định về cách xác định thế nào là hàng sản xuất tại Việt Nam?

Trên thực tế, theo đúng chức năng và phạm vi quản lý nhà nước, Bộ Công Thương đã ban hành nhiều văn bản quy định như thế nào thì một sản phẩm/hàng hóa được coi là sản phẩm/hàng hóa của Việt Nam, hay nói cách khác là có xuất xứ Việt Nam.

Tuy nhiên, các quy định này chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu, giúp hàng hóa của ta được hưởng ưu đãi thuế khi đi vào các thị trường ngoài hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương.

Với hàng hóa sản xuất và sau đó lưu thông trong nước, việc ghi nước xuất xứ được thực hiện theo Nghị định số 43/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Đây là lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ, không phải của Bộ Công Thương.

Những quy định chính trong dự thảo Thông tư là gì?

Dự thảo Thông tư bao gồm một số nội dung chính như sau:

- Các điều khoản chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và giải thích các thuật ngữ sử dụng trong Thông tư;

- Các trường hợp được phép và không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam, cách thức và ngôn ngữ thể hiện;

- Các trường hợp, tiêu chí để hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam;

- Các quy định khác liên quan đến việc xác định hàng hóa của Việt Nam (gia công đơn giản, bao bì phụ kiện, tỷ lệ linh hoạt, yếu tố gián tiếp);

- Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa và tổ chức thực hiện.

Trường hợp nào thì hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam?

Hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trong 2 trường hợp sau:

- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Thông tư.

- Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy định tại Điều 9 của Thông tư.

Tại sao trong ASEAN hàng hóa phải đạt hàm lượng giá trị gia tăng là 40% mới được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ mà tại Thông tư này, chỉ cần hàm lượng 30% đã được coi là hàng hóa Việt Nam?

Trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác, hàm lượng giá trị gia tăng được gọi "hàm lượng giá trị khu vực" (RVC). Tên gọi này đã thể hiện tính chất "khu vực" của quy tắc xuất xứ, tức là cho phép cộng gộp xuất xứ của các nước thành viên.

Ví dụ, với RVC 40% trong ASEAN thì 1 sản phẩm có 20% giá trị của Thái Lan, 10% của Philippines, 5% của Lào và 5% của Việt Nam sẽ được coi là đạt tiêu chí xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D. Thông tư này quy định chặt hơn. Cụ thể, tỷ lệ giá trị gia tăng 30% nêu tại Thông tư là chỉ tính riêng giá trị của Việt Nam.

Với quy định như tại dự thảo Thông tư, nhiều sản phẩm có thể đáp ứng xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D nhưng chưa chắc đã đủ điều kiện để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, có phải cứ đạt hàm lượng giá trị gia tăng trên 30% là được coi là hàng hóa của Việt Nam?

Không nhất thiết. Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy chỉ được coi là hàng Việt Nam khi khâu sản xuất, chế biến cuối cùng diễn ra tại Việt Nam và khâu đó phải làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa, không phải là gia công, chế biến đơn giản như quy định tại Điều 10 của dự thảo Thông tư.

Tại phụ lục các danh mục hàng hóa kèm theo dự thảo Thông tư, Bộ Công Thương liệt kê các mặt hàng, trong đó hầu hết phải đạt tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa 30% (một số ít sản phẩm 40%). Như vậy ngoài việc phải đảm bảo công đoạn cuối cùng không phải là công đoạn đơn giản, thì đây là tỷ lệ tối thiểu giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm nếu muốn được công nhận, dán mác hàng sản xuất tại Việt Nam?

Đối với một mặt hàng cụ thể, nếu tiêu chí xác định "hàng hóa của Việt Nam" là VAC 30% thì 30% là ngưỡng thấp nhất mà VAC của hàng hóa đó phải đạt được để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Thông tư có đặt ra thủ tục hành chính nào buộc doanh nghiệp phải tuân thủ hay không?

Dự thảo Thông tư không quy định bất kỳ một thủ tục hành chính mới nào mà doanh nghiệp phải tuân thủ.

Thực hiện quy định của Thông tư có làm doanh nghiệp phát sinh thêm chi phí gì không?

Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định 43/2017/NĐ-CP. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Với Thông tư này, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc "gian lận xuất xứ", tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp với việc thực thi nghiêm túc Nghị định 43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm "đội lốt" hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Doanh nghiệp lo ngại về việc tự xác định và ghi nhãn "Sản xuất tại Việt Nam" không biết có đảm bảo chính xác không. Bộ Công Thương có tính đến khả năng Nhà nước có cơ quan đứng ra đánh giá và cấp giấy công nhận để họ yên tâm?

Ban soạn thảo chưa bao giờ tính đến khả năng này bởi cơ chế "đánh giá - công nhận" sẽ thực sự là gánh nặng cho cả doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý. Thông tư này, nếu được ban hành, sẽ do doanh nghiệp tự giác thực hiện. Nhà nước chỉ sử dụng Thông tư để phân xử đúng - sai khi xuất hiện tình huống đòi hỏi phải có sự phân xử đúng - sai, thí dụ như vụ Khaisilk trước đây.

Các sản phẩm từ trước tới nay vẫn được dán nhãn “Made in Viet Nam” hay sử dụng danh xưng "hàng Việt Nam" sẽ được ứng xử ra sao?

Kể từ ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, việc thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa phải tuân thủ các quy định của Thông tư, không có ngoại lệ.

Dự thảo Thông tư mới đưa ra các tiêu chí xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam hay sản xuất tại Việt Nam. Tại sao không đề cập đến các khái niệm như "Lắp ráp tại Việt Nam", hay "Sản xuất bởi [công ty nào đó]", hay "Thiết kế tại Việt Nam", hay "Thiết kế bởi [công ty nào đó]"? Một sản phẩm không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa Việt Nam sẽ ghi xuất xứ của nước nào nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau?

Ban soạn thảo đã dự thảo 1 điều khoản đề cập đến các khái niệm này để giúp doanh nghiệp có thêm các hình thức thể hiện trong trường hợp hàng hóa không đáp ứng được các tiêu chí để được coi là hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, do Điều 15 của Nghị định 43/2017 không cho phép doanh nghiệp được sử dụng các cụm từ này, Thông tư lại là văn bản dưới cấp Nghị định nên Ban soạn thảo đã phải bỏ điều khoản này ra. Cho tới nay, chúng tôi cũng chưa rõ Bộ Tư pháp có chấp nhận Điều 4 của dự thảo Thông tư hay không bởi Điều này đưa ra các quy định rộng hơn so với Điều 15 của Nghị định 43/2017.

Vấn đề hình thức văn bản là một trong những vấn đề gây tranh luận trong quá trình trao đổi về sự cần thiết phải ban hành một văn bản quy phạm pháp luật giúp xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Ban soạn thảo nhận thấy nên ban hành ở cấp Nghị định nhưng một số cơ quan khác lại không cho là như vậy. Họ không sai bởi Nghị định chỉ dùng để hướng dẫn luật trong khi chúng ta lại chưa có luật về thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Nếu ban hành Nghị định thì sẽ là một Nghị định "không đầu", điều không được luật pháp hiện hành cho phép.

Xuất phát từ đây, nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau, sản phẩm cuối cùng lại không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa của Việt Nam thì doanh nghiệp sẽ thể hiện xuất xứ theo quy định của Nghị định 43/2017, tức là tự xác định và tự chịu trách nhiệm, miễn là đừng ghi xuất xứ Việt Nam.

Các trường hợp vi phạm quy định của Thông tư sẽ áp dụng chế tài như thế nào?

Theo quy định tại Dự thảo, Tổng cục Quản lý thị trường là đơn vị chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Công Thương và các cơ quan có thẩm quyền khác tổ chức thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm trong quá trình thực thi Thông tư này. Trường hợp phát hiện vi phạm, Tổng cục Quản lý thị trường và các cơ quan có thẩm quyền khác sẽ tùy theo mức độ vi phạm để đưa ra chế tài xử lý phù hợp với quy định của pháp luật.

Bộ Công Thương sẽ làm gì để doanh nghiệp, người dân cũng như các cơ quan quản lý liên quan hiểu được mục tiêu của Bộ Công Thương cũng như các quy định của Thông tư này?

Việc đăng tải Dự thảo Thông tư là bước đầu tiên. Sau đó Bộ Công Thương sẽ tổ chức các buổi hội thảo giới thiệu dự thảo và xin ý kiến các hiệp hội, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có liên quan về các quy định tại dự thảo.

Bộ Công Thương cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông để giải thích, làm rõ về mục tiêu ban hành Thông tư cũng như những nội dung mang tính kỹ thuật để doanh nghiệp, người dân có thể hiểu và góp ý được sát thực nhất.

Thu Giang – Thảo Trang (lược ghi)

Tin bài khác
Huy động quân đội hỗ trợ, dồn lực đưa sân bay Long Thành về đích

Huy động quân đội hỗ trợ, dồn lực đưa sân bay Long Thành về đích

Giữa bối cảnh toàn quốc thiếu hụt lao động kỹ thuật cao, tinh thần "Nói ít, làm nhiều và hành động đến cùng" theo thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang được hiện thực hóa bằng nhịp độ thi công "3 ca, 4 kíp" tại siêu dự án sân bay Long Thành, bất kể mưa nắng.
Xuất nhập khẩu tăng tốc mạnh, lập kỷ lục mới nhưng nội lực doanh nghiệp còn yếu

Xuất nhập khẩu tăng tốc mạnh, lập kỷ lục mới nhưng nội lực doanh nghiệp còn yếu

Kim ngạch xuất nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2026 tăng vọt gần 90 tỷ USD, lập kỷ lục mới, song khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn hụt hơi, bộc lộ rõ khoảng cách với khối FDI.
Đua tiến độ tái định cư, bàn giao mặt bằng cho đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Đua tiến độ tái định cư, bàn giao mặt bằng cho đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Từ Đồng Nai, Thanh Hóa đến Hà Tĩnh, Nghệ An, công tác GPMB phục vụ Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam được đẩy nhanh. Nhiều khu tái định cư dã và đang thành hình, sẵn sàng đón người dân, tạo tiền đề khởi động dự án trọng điểm quốc gia đúng kế hoạch.
Đề xuất rà soát phương án đầu tư cao tốc 30.000 tỷ qua miền Tây

Đề xuất rà soát phương án đầu tư cao tốc 30.000 tỷ qua miền Tây

Dự án cao tốc Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh - Sóc Trăng đang được đề xuất đầu tư với quy mô gần 30.000 tỷ đồng, tuy nhiên nhiều vấn đề về vốn, phương án kỹ thuật và tính đồng bộ đang được Bộ Xây dựng yêu cầu rà soát lại.
Lễ Quốc khánh 2026 nghỉ 5 ngày liên tiếp, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng phương án tương tự

Lễ Quốc khánh 2026 nghỉ 5 ngày liên tiếp, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng phương án tương tự

Dịp Lễ Quốc khánh năm 2026, cán bộ, công chức, viên chức sẽ được nghỉ liên tục 5 ngày từ 29/8 đến hết 2/9 theo phương án hoán đổi ngày làm việc. Bộ Nội vụ đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu áp dụng lịch nghỉ tương tự hoặc có chính sách nghỉ linh hoạt hơn nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động.
Phê duyệt mức phí 13 tuyến cao tốc Bắc - Nam, triển khai thu phí đồng bộ

Phê duyệt mức phí 13 tuyến cao tốc Bắc - Nam, triển khai thu phí đồng bộ

Bộ Xây dựng chấp thuận mức phí 13 tuyến cao tốc Bắc - Nam, tạo cơ sở triển khai thu phí đồng bộ, minh bạch, góp phần hoàn thiện cơ chế vận hành hạ tầng giao thông do Nhà nước đầu tư.
Bộ Chính trị đặt mục tiêu thu hút 300 tỷ USD vốn FDI trong 5 năm, ưu tiên dòng vốn công nghệ cao

Bộ Chính trị đặt mục tiêu thu hút 300 tỷ USD vốn FDI trong 5 năm, ưu tiên dòng vốn công nghệ cao

Nghị quyết mới của Bộ Chính trị xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời đặt mục tiêu thu hút từ 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký giai đoạn 2026-2030. Trọng tâm là thu hút dòng vốn chất lượng cao từ các nền kinh tế phát triển, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển bền vững.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Chống lãng phí, bảo đảm từng đồng ngân sách tạo động lực tăng trưởng

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Chống lãng phí, bảo đảm từng đồng ngân sách tạo động lực tăng trưởng

Phát động Phong trào thi đua “Quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bền vững hai con số giai đoạn 2026-2030”, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu các cấp, ngành và địa phương quản lý chặt chẽ ngân sách, chống thất thoát, lãng phí và đầu tư dàn trải, đồng thời phát huy hiệu quả mọi nguồn lực để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Quảng Ninh chủ trì nâng cấp cầu Đá Bạc: Tăng cường kết nối chiến lược với Hải Phòng

Quảng Ninh chủ trì nâng cấp cầu Đá Bạc: Tăng cường kết nối chiến lược với Hải Phòng

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã thống nhất giao UBND tỉnh Quảng Ninh làm cơ quan chủ quản thực hiện Dự án cải tạo, nâng cấp cầu Đá Bạc trên tuyến Quốc lộ 10. Quyết định này mở ra bước tiến mới trong việc hoàn thiện hạ tầng giao thông liên vùng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội giữa hai địa phương trọng điểm phía Bắc.
TP.HCM tăng tốc giải phóng mặt bằng dự án kết nối cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu

TP.HCM tăng tốc giải phóng mặt bằng dự án kết nối cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu

TP.HCM đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đường Hội Bài – Phước Tân, tạo nền tảng kết nối hạ tầng và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ.
Kinh tế tuần hoàn trở thành “giấy thông hành” mới của ngành sản xuất Việt Nam

Kinh tế tuần hoàn trở thành “giấy thông hành” mới của ngành sản xuất Việt Nam

Kinh tế tuần hoàn đang trở thành động lực tăng trưởng mới của ngành sản xuất Việt Nam. Doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn ESG, chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Việt Nam trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng: Cơ hội lớn và thách thức nội tại

Việt Nam trước làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng: Cơ hội lớn và thách thức nội tại

Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn trong làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, khi dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên, phía sau bức tranh tăng trưởng ấn tượng là những áp lực lớn về năng lực nội tại và tính bền vững của nền kinh tế.
Cao tốc Bắc - Nam thúc đẩy kết nối giảm chi phí logistics và tăng trưởng kinh tế

Cao tốc Bắc - Nam thúc đẩy kết nối giảm chi phí logistics và tăng trưởng kinh tế

Sau hơn hai năm khai thác, cao tốc Bắc - Nam đang cho thấy hiệu quả rõ nét khi rút ngắn thời gian di chuyển, giảm chi phí vận tải và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Kiểm toán nhà nước họp Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phiên đầu tiên

Kiểm toán nhà nước họp Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phiên đầu tiên

Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Kiểm toán nhà nước đã tổ chức phiên họp thứ nhất nhằm xem xét, hoàn thiện chương trình công tác, kế hoạch kiểm tra, giám sát và phân công nhiệm vụ cho các thành viên, tạo cơ sở triển khai đồng bộ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong toàn ngành.
Tăng trưởng cao nhưng kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt nhiều điểm nghẽn cấu trúc

Tăng trưởng cao nhưng kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt nhiều điểm nghẽn cấu trúc

Dù ghi nhận nhiều chỉ số tích cực, nền kinh tế Việt Nam vẫn tồn tại những “nút thắt” về hấp thụ vốn, liên kết doanh nghiệp và chất lượng tăng trưởng cần sớm được tháo gỡ.