Thứ tư 04/11/2026 12:49
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Còn lỗ hổng chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ

12/10/2020 00:00
Nông nghiệp Việt Nam ngày càng già nua. Phát triển Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) sẽ góp phần trẻ hóa được nền nông nghiệp Việt. Bước đi này nhằm tìm kiếm những phương cách đưa nông sản thuần tự nhiên đến người tiêu dùng, phù hợp với xu hướng sống sinh th

Ông Hà Phúc Mịch - Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA)

Sản xuất và sử dụng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (NNHC) đang là xu thế phát triển của thế giới. Trước viễn cảnh NNHC sẽ góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên, duy trì và bảo vệ hệ sinh thái bền vững, tạo ra sản phẩm bổ dưỡng, an toàn cho người tiêu dùng, thì Việt Nam - một nước nông nghiệp đã đón đầu xu hướng đó như thế nào, thưa ông?

Phát triển và sử dụng nông nghiệp hữu cơ là xu thế của tất cả các nước phát triển trên thế giới cũng như là các nước đang phát triển, bởi những hậu quả của việc lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp đã lộ rõ nhiều bất cập như: đất đai bạc màu, sâu bệnh càng tiến hóa để thích ứng và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Cho nên, cả thế giới đều hướng đến nền NNHC, trong đó có Việt Nam. Trên thế giới hiện nay có trên 180 nước đang sản xuất NNHC với tốc độ tăng trưởng về sản phẩm, tổng diện tích gieo trồng, sản xuất NNHC hàng năm đều tăng 2 con số (18 -25%), về sản lượng và tổng doanh thu đều tăng. Doanh thu sản phẩm hữu cơ hiện nay trên thế giới là khoảng 90 tỷ USD/năm. Tuy châu Á là châu lục sản xuất nhiều sản phẩm NNHC nhưng lại là châu lục tiêu thụ ít nhất so với các châu lục khác, đặc biệt là so với châu Âu và Mỹ.

Giống như nhiều nước khác trên thế giới, nông dân nước ta được hiểu là đã biết canh tác hữu cơ theo cách truyền thống từ hàng nghìn năm nay, nhưng sản xuất NNHC theo khái niệm hiện tại của IFOAM thì mới chỉ được bắt đầu từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước với một vài sáng kiến, chủ yếu tập trung vào việc khai thác các sản phẩm tự nhiên, chẳng hạn như các loại gia vị, tinh dầu thực vật, mật ong và dược liệu… để xuất khẩu sang một số nước châu Âu. Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, đã có một số tổ chức phi chính phủ đầu tư sản xuất hữu cơ vào Việt Nam như Tổ chức Phát triển Nông nghiệp châu Á (ADDA) Đan Mạch đã hỗ trợ Việt Nam một số dự án phát triển NNHC, trong đó tập trung phát triển NNHC cho các tỉnh phía Bắc. Cụ thể: Năm 2008, ADDA và Hội Nông dân Việt Nam có thực hiện dự án khung phát triển sản xuất và tiêu thụ NNHC cho các tỉnh miền núi phía Bắc. Từ những dự án này, người ta đã phát triển ở 07 tỉnh miền núi phía Bắc (Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng) về phát triển NNHC. Từ đó chính quyền các địạ phương, các bộ ban ngành và nông dân chúng ta bắt đầu có hiểu biết, có những kinh nghiệm về NNHC, từ đó nhận ra xu thế phát triển NNHC.

Người tiêu dùng ngày càng quan tâm, tin cậy đến sản phẩm NNHC

Chính phủ Việt Nam luôn ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực phát triển một nền nông nghiệp bền vững và thân thiện môi trường, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm, trong đó có NNHC. Với việc Nhà nước cho phép thành lập Hiệp hội NNHC Việt Nam vào năm 2011, một số hoạt động liên quan đến NNHC đã được khởi động. Đặc biệt là 5 năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cụ thể là Trung ương có Nghị quyết lần thứ 4 của khóa XXII “Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới: tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp với các sản phẩm sạch, thân thiện môi trường, nông nghiệp hữu cơ, có năng suất cao, có giá trị lớn” TW Đảng đã nêu vấn đề về phát triển NNHC và Chính phủ đã có Nghị định 109/2018 ban hành 29/8/2018 về NNHC. Thông qua những tác động của các dự án tổ chức phi Chính phủ, đã mang đến sự phát triển phong trào NNHC. Cách đây 5 năm, diện tích của Việt Nam khoảng 33 nghìn ha thì đến năm 2018 là 118.755 ha đất canh tác nông nghiệp. Việt Nam có tốc độ tăng khá nhanh, đứng thứ 3 các nước ASEAN (sau Phillipine và Indonesia) về phát triển NNHC, phát triển cả diện tích và số lượng tiêu thụ, doanh thu.

Hiện cả nước đã có 40/63 tỉnh, thành đã có mô hình sản xuất NNHC, tốc độ tăng trưởng nhanh cả về quy mô, sản lượng cũng như giá trị và chủng loại sản phẩm hữu cơ, tập trung tại một số tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Hà Nam, Quảng Nam, Lâm Đồng, Cà Mau, Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu... Những năm gần đây có rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm và xuất hiện nhiều thực phẩm không an toàn, thì người tiêu dùng bắt đầu quan tâm, tin cậy đến sản phẩm NNHC, trong đó 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đi đầu về tiêu thụ sản xuất NNHC. Thậm chí, sản lượng sản xuất trong nước không đủ, rất nhiều doanh nghiệp đã nhập các sản phẩm hữu cơ từ nước ngoài.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Sản xuất hữu cơ dựa trên 4 quy tắc chung: “Sinh thái, sức khỏe, cẩn trọng, công bằng”. Đây là nguyên tắc nền tảng, là căn cứ xây dựng các Bộ tiêu chuẩn hữu cơ trên thế giới và tại Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường hiện nay xuất hiện nhiều loại sản phẩm đóng nhãn, mác thực phẩm hữu cơ, nhưng chưa thật sự phù hợp với tiêu chuẩn về NNHC, không đáp ứng các yêu cầu an toàn thực phẩm, khiến người dân hoang mang. Ông đánh giá sao về vấn đề này?

Sản xuất hữu cơ là một hệ thống sản xuất nhằm duy trì sức khỏe của đất, của hệ sinh thái và con người. Nó dựa chủ yếu vào các tiến trình sinh thái, sự đa dạng sinh học và các chu trình thích nghi với điều kiện địa phương hơn là sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư đầu vào) mang theo những ảnh hưởng bất lợi. Vì vậy khi thực hành sản xuất NNHC cần phải nghiên cứu thấu đáo bốn nguyên tắc chung của sản xuất NNHC; có thể coi đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình sản xuất - kinh doanh sản phẩm hữu cơ.

Đầu tiên là nguyên tắc về sức khỏe: Nông nghiệp hữu cơ cần đảm bảo và tăng cường sức khỏe của đất, cây trồng, động vật, con người và cả hành tinh như một thể thống nhất không thể tách rời. Thứ hai là nguyên tắc về sinh thái: Nông nghiệp hữu cơ dựa vào hệ sinh thái sống động và chu trình tự nhiên. Các thành phần trong hệ sinh thái luôn hỗ trợ nhau, cạnh tranh, ganh đua nhau và cùng nhau duy trì sự tồn tại trong tự nhiên. Nguyên tắc này gắn NNHC sâu vào trong hệ sinh thái năng động. Nó cho thấy sản xuất phải được dựa vào các quá trình của hệ sinh thái, đó là quá trình sản xuất, tiêu thụ và phân hủy. Thứ ba là nguyên tắc về công bằng: Nông nghiệp hữu cơ cần xây dựng trên mối quan hệ đảm bảo tính công bằng cùng với sự quan tâm đến môi trường chung và những cơ hội sống cho tất cả các sinh vật. Sự công bằng được mô tả như là sự hợp tình hợp lý, sự tôn trọng, ngay thẳng và tận tình đối với con người và cả với những mối quan hệ với các đời sống khác ở xung quanh. Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng tất cả những gì có liên quan đến nông nghiệp hữu cơ cần đối xử trong mối quan hệ như con người, đảm bảo công bằng tới tất cả các tầng lớp và các bên liên quan: Nông dân- công nhân - trí thức- nhà phân phối - thương nhân và người tiêu dùng. Thứ tư là nguyên tắc về sự cẩn trọng: Nông nghiệp hữu cơ cần được quản lý theo cách phòng ngừa và có trách nhiệm để bảo vệ môi trường, sức khỏe và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Có thể nói phong trào làm “hữu cơ” đang bùng nổ ở Việt Nam vài năm trở lại đây, đi đâu chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những cửa hàng thực phẩm “hữu cơ”, những thương hiệu “hữu cơ” xuất hiện như nấm mọc sau mưa (dù là tự phong hay được chứng nhận). Hiện nay trước sự nhập nhằng giữa cách làm nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp công nghệ cao sản xuất thông thường của một số nhà kinh doanh, sản xuất, đánh lừa người tiêu dùng đang phổ biến tràn lan chỉ vì lợi ích. Đây có thể nói là hành động đáng lên án và phải xử lý nghiêm. Mặt khác, dù nói đến công nghệ cao, hay hữu cơ thì việc cần bàn là vấn đề thực phẩm sạch; khi đó ngưỡng cửa minh bạch hóa quy trình sản xuất để có thể truy xuất nguồn gốc, là câu trả lời tốt nhất hiện nay.

Hiện chính sách thúc đẩy, hỗ trợ NNHC phát triển ở nước ta còn thiếu và chậm được triển khai. Theo ông đâu là nút thắt chính cần tháo gỡ để mở đường cho sự phát triển của NNHC trong tương lai?

Ông Hà Phúc Mịch: Ngay từ khi Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ ra đời vào năm 2011 đã xác định được trách nhiệm và nhìn nhận thấy lỗ hổng chính sách. Thời điểm đó ở Việt Nam chưa hề có 1 văn bản nào chỉ đạo NNHC, chưa nói đến Thông tư, Nghị định hay Luật. Vì vậy, chúng tôi xác định 1 trong những nhiệm vụ hàng đầu của phát triển NNHC hay 1 lĩnh vực nào đó, nếu không có chính sách, hành lang pháp lý thì không thể phát triển được.

Từ thực tiễn đã có những mô hình phương thức phát triển NNHC bảo vệ sức khỏe và môi trường tốt, nhưng rất khó khăn vì không có một “bà đỡ” nào của hành lang chính sách cả. Ví dụ, muốn vay vốn tín dụng, muốn quy hoạch vùng sản xuất, muốn bán hàng sản phẩm hữu cơ có chứng nhận hữu cơ để được người mua tin là sản phẩm hữu cơ... tất cả đều cần phải có hành lang pháp lý chính sách. Vì vậy, chúng tôi xác định chiến lược của mình là vận động chính sách. Từ những năm 2012, 2013, chúng tôi đã có văn bản đề nghị các bộ ngành để chúng tôi tổ chức các diễn đàn, kiến nghị cả Chính phủ có chính sách NNHC. Đến cuối năm 2017, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn đã đề xuất và Chính phủ đã đồng ý cho xây dựng 3 chính sách: Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm NNHC; Xây dựng nghị định; Xây dựng đề án phát triển NNHC giai đoạn 2018 - 2025, tầm nhìn 2030.

Nguồn: Internet

Đến hết năm 2018 thì 8 tiêu chuẩn quốc gia đã được ban hành bao gồm: tiêu chuẩn chung, tiêu chuẩn trồng trọt, tiêu chuẩn về chăn nuôi, tiêu chuẩn về cây lúa, cây chè, tiêu chuẩn về tôm, về sữa. Đó là những tiêu chuẩn làm căn cứ để làm chứng nhận cũng như sản xuất. Ngoài ra còn có Nghị định 109/2018, ban hành ngày 29/8/2018, nhưng hiện nay vẫn đang chờ Thông tư hướng dẫn thực hiện. Điều này đồng nghĩa những người sản xuất, tiêu thụ sản phẩm NNHC vẫn phải chờ đợi. Khi Thông tư hướng dẫn ra đời sẽ quy định cơ quan nào của Bộ Nông nghiệp là cơ quan cho phép thành lập đơn vị chứng nhận chứ không phải Bộ Khoa học – Công nghệ như các tiêu chuẩn khác. Do chưa có đơn vị nào chứng nhận sản phẩm NNHC theo Nghị định 109/2018, gây trở ngại rất lớn đối với các nhà sản xuất, doanh nghiệp.

Tháng 9 vừa qua, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đã tham gia Hội nghị góp ý cho Đề án phát triển NNHC Việt Nam, mà lẽ ra theo văn bản Thủ tướng là đề án giai đoạn 2018 - 2025, tầm nhìn 2030.Tôi tin chắc, Đề án phát triển trình Thủ tướng sẽ mở ra những hướng phát triển mạnh mẽ của NNHC từ nay đến 2025 với nhiều triển vọng tốt đối với người tiêu dùng Việt Nam về vấn dề bảo vệ sức khỏe, cũng như về vấn đề bảo vệ môi trường. Thời gian tới, để NNHC có chỗ đứng, cần sự vào cuộc đồng bộ cả của các cấp, các ngành, doanh nghiệp, người nông dân. Trong đó, cần tăng cường tuyên truyền, nhằm thay đổi thói quen sản xuất của người dân để thực hành theo phương pháp sản xuất hữu cơ, cũng như thói quen lựa chọn thực phẩm của người tiêu dùng, tạo cơ hội thị trường cho các sản phẩm NNHC, từ đó, xây dựng mối liên kết chặt chẽ và bền vững giữa các thành phần tham gia sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm hữu cơ dựa trên cơ sở chuỗi giá trị.

Xin cám ơn ông!

Gia Gia (thực hiện)

Tin bài khác
Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Từ hành vi thông đồng, dìm giá đến tình trạng trả giá cao rồi bỏ cọc, những bất cập trong hoạt động đấu giá tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát ngay từ khâu đăng ký đến khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên thảo luận ngày 3/11, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ trách nhiệm của đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá và tăng cường công cụ nhận diện vi phạm, trong khi cơ quan soạn thảo đề xuất nâng tiền đặt trước, bổ sung chế tài cấm tham gia đấu giá.
Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Với mục tiêu kịp thời tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án và mở rộng năng lực sản xuất, ngày 3/11, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Trung Kiên dẫn đầu Đoàn công tác thành phố đến thăm, kiểm tra và làm việc với 3 doanh nghiệp công nghệ cao trọng điểm trên địa bàn phường Đông Hải. Qua đó, thành phố tiếp tục khẳng định vai trò đồng hành, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 được đặt ra cùng yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.