Chủ nhật 05/07/2026 06:50
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Cách mạng năng lượng mặt trời: Thành công của Trung Quốc và bài học cho ASEAN

12/10/2020 00:00
Đối mặt với ô nhiễm không khí, Trung Quốc đã thực hiện một cuộc cách mạng trong ngành năng lượng mặt trời và đạt được những thành công vượt bậc.

Bài học từ Trung Quốc

Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về sản xuất năng lượng sạch – đặc biệt là năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Tính đến đầu năm 2019, Trung Quốc sở hữu 6 trong 10 công ty sản xuất mô-đun năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, vào năm 2018, Trung Quốc lắp đặt một nửa tổng công suất lượng năng lượng mặt trời mới trên toàn thế giới.

Vào năm 2018, Trung Quốc là đất nước đầu tiên lắp đặt hơn 100 gigawatt công suất năng lượng mặt trời, tương đương với lượng điện được sản xuất từ 75 nhà máy năng lượng hạt nhân.

Chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên đầu tư vào năng lượng mặt trời vì nó cho phép quốc gia này trực tiếp giải quyết những vấn đề về ô nhiễm không khí, thay đổi khí hậu và an ninh năng lượng, và các lợi ích liên quan – tài chính và môi trường – là rõ ràng. Những quốc gia thuộc khối ASEAN nên quan sát kỹ và học hỏi.

Vào năm 2005, chỉnh phủ Trung Quốc đã phát hiện rằng việc sản xuất năng lượng nhiên liệu hóa thạch là, nguyên nhân của 90% lượng khí lưu huỳnh đi-ô-xít (SO2) thải ra trên toàn quốc.

Theo Bộ Y tế Trung Quốc, ô nhiệm khí lưu huỳnh công nghiệp đã khiến ung thư trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Trung Quốc. Mỗi năm, ô nhiễm không khí đã giết chết hàng trăm nghìn người dân.

Hơn nữa, để đáp ứng các cam kết trong Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, Trung Quốc buộc phải tăng tỷ lệ năng lượng mặt trời trong năng lượng tổng hợp từ 2,3% năm 2015 lên 20% vào năm 2030. Điều này sẽ giảm bớt nhu cầu về 20 nhà máy nhiệt điện đốt than cỡ trung mới.

Trung Quốc đã đạt được thành công, với những kế hoạch nghiêm túc và phù hợp trên cả nước.

Chương trình Ánh sáng (Brightness Program), bắt đầu từ năm 1996, là chính sách đầu tiên mang điện đến những khu vực vùng sâu vùng xa (vốn không nằm trong lưới điện), thông qua năng lượng mặt trời và năng lượng gió, nhưng vào đầu thập niên 2000, Trung Quốc đã chuyển sang tập trung sản xuất các sản phẩm về năng lượng mặt trời để xuất khẩu, một phần là nhờ trợ cấp của châu Âu để lắp đặt các tấm pin năng lượng mặt trời.

Chính phủ cung cấp tín dụng xuất khẩu, tăng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và thành lập các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tại một số công ty hàng đầu.

Chuyển giao công nghệ diễn ra chủ yếu thông qua việc mua thiết bị sản xuất từ những nước công nghiệp phát triển, các doanh nhân và nhân công lành nghề sẽ triển khai các dự án. Giữa năm 2000 và 2006, khoảng 95% mô-đun quang điện mặt trời do Trung Quốc sản xuất được xuất khẩu.

Điện than gây ra ô nhiễm lớn tại Trung Quốc.
Điện than gây ra ô nhiễm lớn tại Trung Quốc.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các khoản trợ cấp châu Âu đã giảm bớt và vì thế chính phủ Trung Quốc tạo ra một thị trường nội địa khổng lồ dành cho các tấm pin năng lượng mặt trời thông qua các khoản trợ cấp của chính mình.

Chính phủ Trung Quốc đã triển khai Dự án Golden Sun Demonstration Program, bắt đầu vào năm 2009. Chính phủ Trung Quốc sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư các khoản trợ cấp để thực hiện các dự án từ nguồn quỹ đặc biệt cho năng lượng tái tạo, với mục đích thúc đẩy công nghiệp hóa quy mô lớn sản xuất điện mặt trời ở Trung Quốc. Cụ thể, Nhà nuớc cung cấp các khoản trợ cấp tuơng đuơng 50% tổng vốn đầu tư cho các dự án trong đô thị. Mức trợ cấp sẽ tăng tới 70% cho các hệ thống quang điện ở vùng sâu, vùng xa chưa kết nối với lưới điện.

Khoản trợ cấp triển khai năng lượng mặt trời lần hai diễn ra vào năm 2011, với sự ra đời của giá điện feed-in tariff (TiF), để trả cho các nhà sản xuất năng lượng tái tạo. Tiền tài trợ cho chính sách này đến từ khoản phụ phí trong hóa đơn tiền điện của dân.

Ngoài việc thúc đẩy tăng trưởng, chính phủ cũng khuyến khích sự đổi mới. Vào năm 2015, Cơ quan Năng lượng Quốc gia đưa ra sáng kiến Front-runner (Người tiên phong), khuyến khích các cơ sở sản xuất năng lượng mặt trời mới sử dụng các sản phẩm tiên tiến với hiệu suất cao hơn, để minh chứng cho tiến bộ công nghệ của đất nước và giảm chi phí.

Để làm điều này, cơ quan này đấu thầu một số địa điểm có quy mô lớn, chất lượng cao cho những dự án năng lượng mặt trời. Cuộc cạnh tranh khốc liệt đã hạ giá thành xuống đến mức 0,45 NDT (0,06 USD) cho mỗi kilowatt giờ – gần bằng với mức giá năng lượng từ các nhà máy nhiệt điện đốt than.

Nhưng kế hoạch này thành công quá đà: hệ thống không thế chứa hết năng lượng được sản xuất, dẫn đến việc bắt buộc phải cắt giảm sản xuất năng lượng. Vào năm 2018, Trung Quốc giới thiệu một chương trình trợ cấp thông minh, cắt giảm 20% FiT.

Sự thành công của Trung Quốc đồng nghĩa rằng giờ đây quốc gia này được xem là tấm gương để noi theo. Các nền kinh tế mới nổi trong ASEAN có thể làm như vậy không? Câu trả lời phụ thuộc vào việc họ có thể triển khai những chính sách đổi mới như Trung Quốc đã làm hay không.

Ba con đường để Asean cải thiện ngành năng lượng tái tạo

Các quốc gia ASEAN có thể cải thiện tình hình thông qua 3 con đường sau đây. Đầu tiên, đặt ra những mục tiêu vừa phải và có tính ràng buộc. Trung Quốc cam kết sản xuất 30% nguồn cung năng lượng từ các nguồn tái tạo vào năm 2030 như một cách để giảm ô nhiễm không khí. Đây là động lực chính cho cuộc cách mạng năng lượng mặt trời của Trung Quốc.

Đối với những nền kinh tế mới nổi tại ASEAN, con đường này sẽ đòi hỏi những cuộc thảo luận chuyên sâu giữa cộng đồng doanh nghiệp và chính phủ, để đặt ra những mục tiêu và nghiêm túc thực mục tiệu đó, đôi khi kèm theo các chế tài pháp luật.

Thứ hai, một chính sách kết hợp giữa công nghiệp và năng lượng là điều cần thiết để giúp ngành năng lượng mặt trời phát triển nhanh chóng, khi ngành này luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trên các thị trường quốc tế. Trung Quốc đã chứng kiến nhiều công ty trong ngành thất bại và nước này phải thực hiện hàng loạt điều chỉnh các chính sách, trước khi ngành công nghiệp năng lượng mặt trời của quốc gia đông dân nhất thế giới khởi sắc.

Đa số các quốc gia ASEAN vẫn chưa hoàn toàn mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào ngành năng lượng và áp thuế nhập khẩu cao đối các công nghệ thải ra ít carbon. Nếu không thực thi các chính sách hội nhập, ngành công nghiệp năng lượng mặt trời tại những quốc gia này không thể cất cánh.

Cuối cùng, các nước ASEAN cần một mô hình có thể tạo ra lợi nhuận. Những đổi mới về công nghệ cho thấy rằng có những cách đáng tin cậy, để giúp ngành công nghiệp năng lương mặt trời có thể hoạt động sinh lời. Hiện tại, Trung Quốc đang chuyển từ trợ cấp FiT sang hình thức đấu giá, sau thời gian phát triển và ổn định thị trường.

Các nước ASEAN nên thực hiện các đánh giá chuyên sâu về cách tiếp cận chính sách hiện nay của mình, và chọn một cách tiếp cận đáp ứng được các mục tiêu về biến đổi khí hậu, sự sẵn sàng của thị trường cho những công nghệ năng lượng tái tạo và thiết kế một hệ thống chính sách và trợ cấp bổ trợ cho nhau, tạo ra nhiều lợi ích.

Tại ASEAN, các nước đã trợ cấp rất nhiều cho nhiên liệu hóa thạch là rất lớn và hệ thống phát triển kinh doanh năng lượng mặt trời vẫn còn yếu. Các quốc gia đầu tư nhiều vào công nghệ, tích cực thực hiện cải cách kinh tế rộng lớn hơn và nâng cấp các kỹ năng tân tiến sẽ gặt hái được thành quả từ năng lượng mặt trời, như Trung Quốc đã làm.

Bài viết thể hiện quan điểm của tiến sĩ Venkatachalam Anbumozhi, chuyên gia kinh tế cao cấp về năng lượng của Economic Research Institute for ASEAN and East Asia (Viện nghiên cứu Kinh tế Đông Nam Á và Đông Á) đăng trên tờ Nikkei Asian Review.

Nguồn Nikkei Asian Review

Tin bài khác
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng hai con số

Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch, hạ tầng, nhà ở và đầu tư, tạo nền tảng quan trọng giúp ngành xây dựng đóng góp mạnh mẽ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Đồng Tháp tăng trưởng GRDP 7,14% trong 6 tháng đầu năm, quyết liệt bứt phá cho mục tiêu cả năm 2026

Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh Đồng Tháp trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,14%, nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ tư (mở rộng), lãnh đạo tỉnh yêu cầu cả hệ thống chính trị tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư và quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nhằm hoàn thành mục tiêu phát triển năm 2026.
Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Hạn chót báo cáo danh sách lãnh đạo vi phạm ngân sách trước ngày 5/7/2026

Chính phủ vừa phát đi thông điệp mạnh mẽ nhằm siết chặt kỷ luật tài chính và đầu tư công. Toàn bộ danh sách người đứng đầu, các tập thể để xảy ra sai sót trong quản lý, sử dụng ngân sách niên độ 2024 trở về trước phải được làm rõ trách nhiệm và tổng hợp gửi về Bộ Nội vụ để trình Thủ tướng Chính phủ xử lý.
Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Sắp ban hành định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến dự thảo định mức riêng cho tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, nhằm tháo gỡ vướng mắc chi phí và đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm.
TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

TP. Hồ Chí Minh tăng trưởng 8,55% trong nửa đầu năm 2026, FDI vượt 6,8 tỷ USD

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực với GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực chính, trong khi thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bứt phá, tạo thêm lực đẩy cho tăng trưởng.
Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

Quảng Ninh tăng trưởng vượt kịch bản, thu ngân sách bứt phá sau 6 tháng đầu năm

GRDP 6 tháng đầu năm 2026 của Quảng Ninh ước tăng 11,11%, vượt kịch bản đề ra. Cùng với đó, thu ngân sách đạt hơn 48.500 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ và giải ngân đầu tư công tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước.
Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Cục Thống kê: 3 động lực giúp công nghiệp duy trì đà tăng trưởng

Theo Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê), công nghiệp Việt Nam đang được hỗ trợ bởi ba động lực lớn gồm FDI, đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào và vận tải, đòi hỏi các giải pháp hỗ trợ kịp thời.
Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Chốt thỏa thuận FTA với khối EFTA, thủy sản, công nghiệp rộng đường sang Bắc Âu

Bước ngoặt quan trọng này mở ra cơ hội đưa thuế suất nhiều dòng hàng công nghiệp, thủy sản về 0%, đồng thời thúc đẩy làn sóng đầu tư công nghệ cao từ các nền kinh tế phát triển hàng đầu châu Âu vào Việt Nam.
Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Cục Thống kê chỉ ra 4 động lực và 3 rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý trong nửa cuối năm

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều dư địa tăng trưởng nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, đầu tư công được đẩy mạnh, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục dịch chuyển vào Việt Nam và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chủ động ứng phó với những rủi ro từ thị trường xuất khẩu, chi phí đầu vào và nguồn cung vật liệu xây dựng.
Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Sàn giao dịch carbon hoạt động - thêm động lực phát triển cho ngành nông, lâm nghiệp

Theo ông Đậu Ngọc Hùng, Trưởng ban Thống kê Nông, lâm nghiệp và Thủy sản (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), việc Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành sẽ không được ghi nhận trực tiếp vào giá trị sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp, song sẽ tạo tác động tích cực thông qua cơ chế chi trả từ tín chỉ carbon, góp phần khuyến khích bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Xuất nhập khẩu vượt 549 tỷ USD, nhập khẩu tăng mạnh theo đà phục hồi sản xuất

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất gia tăng, trong bối cảnh hoạt động sản xuất, đặc biệt ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp tục khởi sắc.
Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Đầu tư tăng tốc, vốn FDI giải ngân cao nhất 5 năm

Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện đạt 13,03 tỷ USD – mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong giai đoạn 2022-2026, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được củng cố.
Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tăng mạnh nhất trong 7 năm, chế biến chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng

Sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực trong nửa đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng sự phục hồi của khai khoáng và sản xuất điện.
GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

GDP Việt Nam tăng 8,18% nửa đầu 2026 giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động

Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm dự báo, tăng trưởng GDP Việt Nam 6 tháng đầu năm vẫn đạt 8,18%, cho thấy sức chống chịu và động lực phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế.
Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Phó Thủ tướng chỉ đạo kiểm tra giá cước vận tải, yêu cầu giảm khi nhiên liệu hạ nhiệt

Thông báo số 345/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng nêu rõ yêu cầu xử lý nghiêm các trường hợp chậm điều chỉnh giảm giá cước khi chi phí đầu vào giảm, đồng thời ngăn chặn các hành vi đầu cơ gây bất ổn thị trường.