Thứ tư 20/05/2026 09:48
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Các chuyên gia, doanh nghiệp nói gì về “Made in Vietnam?

12/10/2020 00:00
Từ sau những sự vụ trấn động dư luận về "Made in Vietnam" đang đặt ra bài toán cần có lời giải để người tiêu dùng không phải “sống chung” với ma trận hàng hóa “Made in Vietnam” cũng như không gây ảnh hưởng tới các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Đ

Chuyên gia tài chính – TS. Nguyễn Trí Hiếu: Cần cơ quan pháp luật tham gia xử lý vi phạm

Thực trạng vi phạm nhãn mác xuất xứ hàng hóa Việt Nam đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt nếu Chính phủ không có những biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt, nhiều hàng hóa Trung Quốc lợi dụng dán mác Việt Nam để đưa vào Mỹ, tránh thuế nhập khẩu mà Mỹ áp dụng đối với hàng Trung Quốc. Và khi đã bị Mỹ coi là trạm trung chuyển đưa hàng Trung Quốc đội lốt Made in Vietnam trốn thuế vào Mỹ, thì đây sẽ là vấn đề phức tạp và nghiêm trọng hơn nhiều, từ đó Mỹ có thể sẽ áp dụng nhiều biện pháp ngăn chặn quan hệ ngoại thương giữa hai nước, chắc chắn chúng ta sẽ bị thiệt hại nhiều hơn. Đó là đối với thị trường quốc tế, còn với thị trường trong nước, việc vi phạm nhãn mác xuất xứ hàng hóa có thể gây tổn hại lớn đến thị trường, hàng hóa không chính danh, không rõ xuất xứ, hàng nội địa bị đánh tráo, người tiêu dùng bị ảnh hưởng trực tiếp, không thể phân biệt hàng chất lượng, hàng thật, hàng giả.

Thông tư Dự thảo của Bộ Công Thương quy định về sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam và sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam là hoàn toàn cần thiết, tuy nhiên theo tôi vẫn chưa phải đầy đủ để có thể giải quyết triệt để vấn đề. Để giải quyết tận gốc, ngăn chặn vi phạm thì không thể chỉ thực hiện bằng những quyết định hành chính mà quan trọng là việc chúng ta hành động giải quyết vấn đề đó như thế nào. Nếu không có một cơ quan giám sát việc tuân thủ thực hiện và có những biện pháp quy định rõ ràng để xử lý thì chắc chắn vấn đề vẫn còn tồn tại.

Tôi đưa ra ba đề xuất đóng góp thêm giải quyết vấn đề này: Trước nhất, chúng ta có những cơ quan thanh tra, kiểm tra các cấp, những cơ quan này cần có những chương trình rà soát, kiểm tra hàng hóa sản xuất nội địa, những công việc này cần được thực hiện nghiêm chỉnh và giám sát chặt chẽ. Thứ hai, chúng ta phải sử dụng đến những cơ quan pháp luật, tòa án tham gia xử lý vấn đề này, trong trường hợp nghiêm trọng liên quan đến vấn đề lừa đảo có thể phải xử lý hình sự. Và cuối cùng là công khai toàn bộ những thông tin vi phạm của doanh nghiệp để người dân, người tiêu dùng được biết để cùng tham gia ngăn chặn, bảo vệ một thị trường cạnh tranh lành mạnh, trong sạch.

Ngoài những vấn đề trên, với nhiều năm làm việc ở nước ngoài, khi nhìn nhận về doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, tôi nhận thấy tinh thần đạo đức kinh doanh không thật sự được coi trọng. Mỗi đạo luật, quy định mới được đưa ra thì doanh nghiệp sẽ cố gắng tìm những kẽ hở để lách qua. Điều này đối với doanh nghiệp Mỹ và phương Tây thì hoàn toàn không có, tất cả mọi người khi tham gia thị trường đều tuân thủ luật pháp sẽ tạo ra một thị trường cạnh tranh công bằng, còn nếu có những người tìm cách lách luật sẽ tạo ra một sân chơi không công bằng, phi kinh tế thị trường.

Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể đi lên, phát triển ổn định bền vững, nếu như vấn đề đạo đức kinh doanh được toàn bộ nền kinh tế quan tâm thực thi nghiêm.

Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang: Đang có sự nhầm lẫn về thương hiệu và sản xuất

Việc vi phạm xuất xứ hàng hóa trên thế giới và Việt Nam đều được quan tâm và phản ánh rõ ràng, tuy nhiên vấn đề là cơ quan quản lý không xử lý nghiêm, xử lý đúng, còn tồn tại sự bất cập trong công tác quản lý, công tác thực thi pháp luật. Bản chất cạnh tranh và kinh doanh lành mạnh là người kinh doanh có thể làm những gì nhà nước không cấm. Cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, thương hiệu là một điều cực kỳ tốt, cạnh tranh đúng nghĩa giúp làm ra những sản phẩm với giá rẻ hơn và tốt hơn, còn cạnh tranh méo mó, là sai luật là gian lận thương mại.

Việc gian lận thương mại, xuất xứ hàng hoá khiến người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng hoặc không, ví dụ như vệ sinh an toàn thực phẩm nếu có gian lận thì ảnh hưởng vô cùng lớn, nhưng cũng có những mặt hàng người tiêu dùng còn được lợi về giá cả, nhưng cái lợi đó chỉ là ngắn hạn. Khi phân tích về những trường hợp gian lận thương hiệu, phải đứng trên phương diện trung lập, khách quan, mới có thể rõ ràng đúng sai. Ví dụ, đối với trường hợp Asanzo, người tiêu dùng có cơ hội được sử dụng hàng điện tử rẻ, Asanzo bán hàng giá rẻ cho vùng sâu vùng xa thì đó là việc tốt, đấy là thuần túy về người tiêu dùng, nhưng về vấn đề quản lý nhà nước và xuất xứ thì không. Hiện nay đang có sự nhầm lẫn giữa thương hiệu và sản xuất; sản xuất là phương tiện, còn cái bất biến, giá trị lâu dài của doanh nghiệp chính là thương hiệu. Nếu vấn đề sản xuất của doanh nghiệp có vấn đề, phát hiện sai phạm thì cần xử lý, nhưng nếu hành lang pháp lý chưa rõ ràng, chưa có quy định như thế nào là sai phạm thì không thể nói doanh nghiệp đó sai phạm được.

Về Dự thảo Thông tư Bộ Công Thương mới đưa ra gần đây, theo tôi cần phải xem xét kỹ hơn, ví dụ dự thảo đưa ra con số 30% là Made in Viet Nam vậy 29% thì sao. Ngay trong ngành Ô-tô quy định áp thuế nội khối ASEAN hiện tại là 40% nội địa hoá. Chính sách quản lý xuất xứ là một chính sách đa dạng và uyển chuyển. Để giải quyết vấn đề, trước tiên Bộ Công Thương cần mời những chuyên gia tư vấn, tham khảo, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhiều bên. Tiếp đến, việc quản lý quy định cần phải theo mỗi category - chủng loại sản phẩm (tỷ lệ % tuỳ theo chủng loại mặt hàng), học hỏi hàng rào kỹ thuật các nước phát triển, nhất là Mỹ, phân tích rõ lợi ích thiệt hại sau khi đưa ra quy định.

Những năm thập niên 60, 70 thì quy định xuất xứ hàng hóa “Made in…” mới có giá trị tuyệt đối, nhưng bây giờ thế giới đã toàn cầu hóa, một sản phẩm được làm ra bằng chuỗi giá trị toàn cầu, thành ra công đoạn cuối, quốc gia nào đóng gói hoàn thiện sản phẩm cuối cùng thì người ta ghi ở đó. Nhưng đây cũng là tương đối, nếu xuất qua nước thứ ba, họ không đồng ý thì đó là quyền của người mua, có những sản phẩm giá trị sản xuất theo quy định bằng không, nhưng giá trị thương mại, thương hiệu vẫn rất lớn, nhờ vào danh tiếng, chế độ bảo hành hậu mãi, hệ thống phân phối. Cuối cùng, tùy theo đặc thù doanh nghiệp, đối với những doanh nghiệp khởi nghiệp còn khó khăn thì quy định yêu cầu về hàm lượng nội địa hóa quá cao sẽ gây cản trở việc phát triển, xây dựng thương hiệu, chính vì vậy, Bộ Công Thương cần xây dựng lộ trình quy định hàm lượng nội địa hóa sản phẩm theo thời gian. Đôi khi, có những chính sách đưa ra nếu không cẩn thận sẽ là “tự lấy đá ghè chân mình”.

Luật sư Vũ Văn Mộc - Giám đốc Công ty Luật Nguyễn Đỗ (Tổ hợp Luật sư đa quốc gia Nguyễn Đỗ): Mức xử phạt vi phạm chưa đủ sức răn đe

Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, nhiều sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam ngày càng khẳng định được chất lượng, tạo được uy tín và niềm tin cho người tiêu dùng trong nước và trên thế giới. Một số mặt hàng trước đây được người tiêu dùng Việt Nam sử dụng nhập khẩu từ nước ngoài, nhất là từ Trung Quốc dần được thay thế bằng hàng trong nước. Xuất phát từ thực tế này mà thời gian qua có một số thương nhân nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nhưng lại ghi nhãn xuất xứ hàng hóa “sản xuất tại Việt Nam” hay “Made in Vietnam”. Đây là hiện tượng gian lận thương mại, không những gây hậu quả trực tiếp đến sản phẩm cụ thể, đánh lừa người tiêu dùng mà còn làm giảm uy tín và tính cạnh tranh lành mạnh của hàng sản xuất tại Việt Nam, ảnh hưởng lớn tới nền sản xuất trong nước.

Với hành vi gian lận thương mại, ngoài việc tiêu thụ được nhiều hàng hóa, vì người tiêu dùng lầm tưởng là hàng Việt Nam chất lượng cao, còn đem lại cho nhà sản xuất, kinh doanh một số lợi thế khác như được hưởng ưu đãi thuế quan hoặc phi thuế quan khi xuất khẩu sang thị trường mà Việt Nam có cam kết quốc tế theo các Hiệp định Thương mại tự do hoặc để lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại trong nước.

Sở dĩ có tình trạng vi phạm nhưng chưa xử lý được dứt điểm, vì Việt Nam chưa có quy định về tiêu chí để hàng hóa được ghi nhãn sản xuất tại Việt Nam. Các văn bản pháp luật hiện hành như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2013; Nghị định số 103/2006/NĐ-CP; Nghị định số 43/2017/NĐ-CP; Nghị định số 31/2018/NĐ-CP … chủ yếu là điều chỉnh về nhãn hàng hóa, chỉ dẫn địa lý và thương hiệu. Đây là kẽ hở trong vấn đề quản lý nhà nước để gian thương lợi dụng.

Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh của hàng sản xuất tại Việt Nam, trong một số văn bản pháp luật của Nhà nước như Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Thương mại năm 2005; Nghị định số 31 năm 2018 quy định về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu; Nghị định Số: 185/2013/NĐ-CP qui định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… hoặc BLHS/2015 “sửa đổi” (Điều 192. tội sản xuất, buôn bán hàng giả… Điều 226, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) đã có những qui định xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về các hành vi vi phạm nhãn hiệu hàng hóa, nhãn mác hàng hóa. Tuy nhiên, các mức xử phạt hành chính hoặc các chế tài hình sự được qui định trong các văn bản nêu trên còn quá nhẹ. Hình phạt nặng nhất được qui định tại khoản 2 Điều 226 BLHS/2015 như sau: Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý… thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm…

Tại một số nước, mức xử phạt hành vi vi phạm qui định về xuất xứ hàng hóa rất nghiêm khắc, có thể phạt tiền đến 100 nghìn Euro (tương đương trên 5 tỉ đồng- Italy) hoặc phạt tù đến 14 năm (Canada)…Do đó, Việt Nam cần qui định mức xử phạt nghiêm khắc hơn nữa mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa đối với các hành vi gian lận thương mại.

Doanh nhân Nguyễn Trọng Phi - Chủ tịch HĐQT Giovanni Group: “Made in Vietnam” không chỉ là hàng sản xuất tại Việt Nam

Bản chất hàng Việt Nam phải đi theo xu hướng cách mạng 4.0. Hàng Việt Nam cũng song hành với 4 lớp phát triển của thị trường của người Việt trong suốt 100 năm qua. Từ thời kì 1.0, có thể hiểu là hàng hoá Việt Nam tồn tại dưới dạng nguyên thủy nhất, cứ những thứ sinh ra trên đất nước Việt Nam được làm từ nguyên liệu, vật liệu, khai thác, sản sinh từ lãnh thổ Việt Nam thì đó là hàng Việt Nam. Đến thời kì 2.0, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thông thương với thế giới thì lúc này hàng Việt Nam đồng nghĩa với hàng nội địa. Nếu chúng ta so sánh với hàng loạt các hàng hóa đang dồn dập vào thị trường Việt Nam thời kỳ này mà chủ yếu là hàng ngoại, hàng secondhand, hàng buôn lậu qua biên giới từ Thái Lan hay hàng sida từ các nước châu Âu thì trong con mắt người Việt lúc này hàng Việt Nam có phẩm chất rất kém, mẫu mã xấu, được sản xuất bằng dây truyền lạc hậu.

Thời kỳ 3.0 là thời kỳ mở cửa thì hàng Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới, trong 20 -30 năm trở lại đây. Lúc này hàng Việt Nam bắt đầu ra nước ngoài. Những người Việt ra nước ngoài du lịch, mua sắm hay kinh doanh hàng xách tay rất ngỡ ngàng với các sản phẩm ngoại nằm ở thị trường cách Việt Nam rất xa như Mỹ đã có những sản phẩm “Made in Vietnam”. Vì vậy, họ nhận ra rằng “Made in Vietnam” không phải hàng kém nhưng là hàng hoá sản xuất ở Việt Nam, còn dây truyền công nghệ, chất xám, quản lý thì hoàn toàn của những công ty nước ngoài. Hàng hóa “Made in Vietnam” lúc này hoàn toàn không dành cho người Việt mà chủ yếu dành cho xuất khẩu.

Hiện nay, thời kỳ 4.0, hàng Việt Nam được hình thành, tính cách, phẩm chất và đặc tính rõ rệt nhất khi thời đại thế giới phẳng đã diễn ra chục năm. Việt Nam là một nước hỗ trợ rất sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Lúc này người Việt Nam nhanh chóng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu để làm cho các sản phẩm “Made in Vietnam” có một vị trí khác. Nếu như ngày xưa làm ra tại Việt Nam thì thời đại 4.0, hàng Việt Nam có nghĩa là do chính khối óc người Việt mang về gía trị cho thị trường Việt Nam.

Chúng ta có nói tới người Việt Nam sở hữu các thương hiệu quốc tế, tức là một thương hiệu biết sử dụng lợi ích của toàn cầu hóa để đem về kiến thức, công nghệ sản xuất từ khâu thiết kế, nhập khẩu máy móc, nguyên, phụ liệu sản xuất ra có thể trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng cuối cùng là phục vụ cho người Việt. Dưới góc nhìn của Giovanni thời 4.0 là ở cấp độ cao nhất khi hàng Việt Nam là hàng hóa được làm ra bằng khối óc, chất xám người Việt nhưng sử dụng, tận dụng tất cả giá trị chuỗi cung ứng toàn cầu, khái niệm hàng Việt Nam lúc này cũng thay đổi hoàn toàn. Hàng Việt Nam không chỉ đơn thuần là hàng chỉ sản xuất tại Việt Nam mà còn từ khâu sáng tạo, thiết kế đến việc tham gia vào chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu toàn cầu...

Doanh nhân Đỗ Thị Phương Lê - Phó tổng Giám đốc Công ty CP Sumi Vico Thủ Đô: Vi phạm nhãn mác, nhãn hiệu gây ảnh lớn tới các DN làm ăn chân chính

Hiện nay, hàng Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Những hành vi gian lận của một số doanh nghiệp tác động tiêu cực đến uy tín của sản phẩm, thương hiệu Việt và có thể gọi đó là vấn nạn với doanh nghiệp trong quảng bá thương hiệu của mình. Bởi nếu chúng ta không xác định được thương hiệu thì sẽ rất nguy hiểm. Việc xác định các thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá của doanh nghiệp sẽ góp phần tiến tới nhà nước pháp quyền và mọi người dân được làm theo đúng luật pháp, đồng thời tạo môi trường lành mạnh và bảo vệ nền kinh tế đất nước.

Thực tế, vấn nạn vi phạm nhãn mác, nhãn hiệu hàng hóa ngày một gia tăng, diễn ra phức tạp và tinh vi, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư của Việt Nam, cần phải giải quyết ngay. Vấn nạn này đã gây ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp làm ăn chân chính bởi những doanh nghiệp đó phải đầu tư rất nhiều cho công nghệ, nhân lực,… trong khi hàng hóa làm giả thì giá thành rẻ hơn do mức độ đầu tư ít.

Việc bảo vệ thương hiệu, đấu tranh với những vụ việc vi phạm nhãn mác, nhãn hiệu không chỉ vì sự sống còn của doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm của doanh nghiệp với người dùng, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Theo tôi, để hạn chế tình trạng vi phạm nhãn hiệu hàng hóa, cần phải nâng cao nhận thức từ cơ quan chức năng, doanh nghiệp tới người dân. Nếu không làm tốt vấn đề nhận thức thì có dùng giải pháp gì cũng khó có khả thi. Đặc biệt, phải xử lý nghiêm nếu có sai phạm, đồng thời cần làm rõ và quy trách nhiệm cụ thể đối với tổ chức, cá nhân liên quan khi để xảy ra những vi phạm nghiêm trọng, nhằm bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp nói riêng và người tiêu dùng nói chung. Hơn nữa, pháp luật cần đưa ra những quy định rõ ràng về cách thức gắn nhãn mác sản phẩm đối với từng đối tương cụ thể để tránh tạo ra những kẽ hở.

N.Thái – Thu Giang

Tin bài khác
Thủ tướng Chính phủ: Hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2026

Thủ tướng Chính phủ: Hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2026

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương tập trung cao độ cho công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2026; đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu nếu để chậm tiến độ hoặc báo cáo không đúng thực chất.
Bộ Xây dựng hậu sáp nhập: Cắt gần 300 thủ tục, tiết kiệm hơn 6.800 tỷ đồng

Bộ Xây dựng hậu sáp nhập: Cắt gần 300 thủ tục, tiết kiệm hơn 6.800 tỷ đồng

Nỗ lực tinh gọn bộ máy sau khi sáp nhập Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng đang mang lại những kết quả đột phá. Với việc cắt giảm và đơn giản hóa gần 300 thủ tục hành chính, ngành Xây dựng không chỉ tháo gỡ "rào cản giấy phép" mà còn giúp cắt giảm hơn 50% chi phí tuân thủ cho các nhà đầu tư.
Cục Hải quan thông tin về yêu cầu khai báo chi tiết thành phần hóa chất khi nhập khẩu

Cục Hải quan thông tin về yêu cầu khai báo chi tiết thành phần hóa chất khi nhập khẩu

Trước phản ánh của một số hiệp hội, doanh nghiệp và cơ quan báo chí liên quan đến việc phải khai báo chi tiết thành phần hóa chất khi làm thủ tục nhập khẩu, Cục Hải quan vừa có thông tin chính thức nhằm làm rõ căn cứ pháp lý, quy trình thực hiện cũng như trách nhiệm của các bên liên quan.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi quy định giao dịch điện tử: Tăng tốc chuyển đổi số trên thị trường chứng khoán

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi quy định giao dịch điện tử: Tăng tốc chuyển đổi số trên thị trường chứng khoán

Bộ Tài chính đang thúc đẩy quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán nhằm đáp ứng xu thế phát triển công nghệ và yêu cầu chuyển đổi số ngày càng mạnh mẽ. Theo dự thảo thông tư mới đang được lấy ý kiến, nhiều nội dung quan trọng liên quan đến xác thực điện tử, ứng dụng API, quản lý dữ liệu và bảo mật hệ thống sẽ được bổ sung, điều chỉnh theo hướng đồng bộ và phù hợp hơn với thực tiễn phát triển của thị trường.
Việt Nam mở cửa thị trường tín chỉ carbon quốc tế - động lực mới cho kinh tế xanh

Việt Nam mở cửa thị trường tín chỉ carbon quốc tế - động lực mới cho kinh tế xanh

Nghị định 112/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 19/5, không chỉ tạo hành lang pháp lý cho hoạt động trao đổi tín chỉ carbon quốc tế, nghị định còn mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu siết chặt tiêu chuẩn phát thải.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Khẩn trương giải ngân vốn cho khoa học công nghệ và chuyển đổi số

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Khẩn trương giải ngân vốn cho khoa học công nghệ và chuyển đổi số

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách; ưu tiên nguồn lực cho cơ sở dữ liệu quốc gia, trí tuệ nhân tạo và các sản phẩm công nghệ chiến lược, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong năm 2026.
Bộ Xây dựng đề xuất rót 10.000 tỷ đồng cho Quỹ nhà ở Trung ương

Bộ Xây dựng đề xuất rót 10.000 tỷ đồng cho Quỹ nhà ở Trung ương

Trong bối cảnh nhu cầu nhà ở xã hội tiếp tục gia tăng, Bộ Xây dựng đang đề xuất bố trí 10.000 tỷ đồng vốn điều lệ cho Quỹ nhà ở Trung ương giai đoạn 2026 - 2030 nhằm tăng nguồn lực phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và hỗ trợ người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở.
Bộ Xây dựng cải cách mạnh thủ tục hành chính, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng

Bộ Xây dựng cải cách mạnh thủ tục hành chính, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng

Cải cách thủ tục hành chính trong ngành xây dựng đang tăng tốc, giúp tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng, rút ngắn thời gian xử lý và tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn.
Thủ tướng yêu cầu xử lý dứt điểm vướng mắc thủ tục, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp

Thủ tướng yêu cầu xử lý dứt điểm vướng mắc thủ tục, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh theo hướng thực chất, hiệu quả; đồng thời kịp thời tháo gỡ những khó khăn, bất cập mà người dân, doanh nghiệp phản ánh nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn mới.
Thành lập Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế

Thành lập Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế

Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 883/QĐ-TTg thành lập Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế. Đây là cơ quan chuyên trách giúp Thủ tướng chỉ đạo công tác đàm phán, ký kết và thực thi các hiệp định thương mại song phương và đa phương.
Đánh giá cú sốc Trung Đông và kịch bản ứng phó giá dầu, chuỗi cung ứng

Đánh giá cú sốc Trung Đông và kịch bản ứng phó giá dầu, chuỗi cung ứng

Chuẩn bị cho phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2026, Bộ Tài chính vừa ban hành Công văn hỏa tốc số 6275/BTC-NSNN. Toàn hệ thống kinh tế được lệnh khẩn trương xây dựng kịch bản ứng phó với xung đột Trung Đông, kiểm soát biến động giá dầu, vận tải biển nhằm giữ vững ổn định vĩ mô trước thời hạn chót ngày 20/5.
TP.HCM phê duyệt Đề cương Quy hoạch tổng thể giai đoạn 2025 – 2050, tầm nhìn 100 năm

TP.HCM phê duyệt Đề cương Quy hoạch tổng thể giai đoạn 2025 – 2050, tầm nhìn 100 năm

UBND TP.Hồ Chí Minh vừa ban hành Quyết định phê duyệt Đề cương Quy hoạch tổng thể TP.Hồ Chí Minh thời kỳ 2025 – 2050, tầm nhìn 100 năm, với định hướng xây dựng Thành phố trở thành siêu đô thị bền vững, sáng tạo và đáng sống hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Lâm Đồng: Ngành Khoa học & Công nghệ định vị động lực tăng trưởng mới

Lâm Đồng: Ngành Khoa học & Công nghệ định vị động lực tăng trưởng mới

Vừa qua, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (18/5). Sự kiện không chỉ nhằm tôn vinh đội ngũ trí thức mà còn là cột mốc quan trọng để đánh giá lại những thành tựu của ngành sau gần một năm thực hiện tái cơ cấu hành chính, sáp nhập ba tỉnh và hợp nhất hai sở chiến lược.
Bộ Tài chính và WB thúc đẩy xây dựng khung hợp tác mới giai đoạn 2026-2030

Bộ Tài chính và WB thúc đẩy xây dựng khung hợp tác mới giai đoạn 2026-2030

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đề nghị Ngân hàng Thế giới (WB) tiếp tục hỗ trợ Việt Nam huy động nguồn lực cho hạ tầng, phát triển thị trường vốn và chuyển đổi kinh tế xanh trong giai đoạn hợp tác mới 2026-2030. WB dự kiến có thể cung cấp khoảng 11 tỷ USD vốn vay phục vụ các chương trình đầu tư công trọng điểm của Việt Nam trong 5 năm tới.
Sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Dịch chuyển trọng tâm sang đổi mới sáng tạo

Sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Dịch chuyển trọng tâm sang đổi mới sáng tạo

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang được đặt vào vị trí hạt nhân. Tuy nhiên, mức độ thụ hưởng của chính sách thấp đang đặt ra yêu cầu cấp bách về việc sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ Doanh Nghiệp Nhỏ và Vừa (DNNVV), hướng tới một khung pháp lý thực chất, số hóa và gắn kết chặt chẽ với các tiêu chuẩn hội nhập quốc tế.