Thứ hai 02/11/2026 18:32
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

‘Bức tranh xám’ của dệt may

12/10/2020 00:00
Khi mà các thị trường chủ lực như Mỹ và EU vẫn kéo dài thời gian ngừng nhập, tạm hoãn vì dịch Covid-19 thì tình trạng khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may sẽ còn tiếp diễn.

Ở Bình Dương hay Tp.HCM, vẫn đang “nóng” tình trạng người lao động mất việc hoặc phải tạm nghỉ vì doanh nghiệp (DN) dệt may, da giày không có đơn hàng do ảnh hưởng dịch Covid-19.

"Đầu ra" vẫn chưa thông

Nói với Thời báo Kinh doanh, tổng giám đốc một công ty may mặc ở thành phố Thuận An (Bình Dương) cho biết, số đơn hàng xuất khẩu (XK) của công ty sang hai thị trường lớn là Nhật Bản và Hàn Quốc hiện đã quay trở lại nhưng giảm 50% đến 70%, trong khi đó thị trường Mỹ và EU vẫn đang ngừng nhập hàng hoặc tạm hoãn.

HINH-5501-1590743522.jpg
Ngành dệt may đang hứng chịu tác động kép từ dịch Covid-19

Theo tìm hiểu, DN của này hiện chỉ đạt khoảng 30% công suất. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều DN dệt may tính đến hết tháng 5/2020 khi mà các đối tác tạm thời ngừng nhận đơn hàng tới hết tháng 6/2020.

Còn tại Tp.HCM, tình trạng của các doanh nghiệp cũng không có gì khả quan hơn. Theo chia sẻ của ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch Công ty TNHH Việt Thắng Jean, doanh thu của công ty đã giảm đến 80% trong khi mỗi tháng phải chịu áp lực chi 30 tỷ đồng tiền lương cho công nhân.

Với khoảng 600 DN dệt may ở Tp.HCM đang gặp khó khăn kéo dài vì Covid-19, nhiều ý kiến nhận định có thể khoảng 20% đến 30% DN trong số này có thể sẽ phá sản.

Báo cáo cập nhật ngành dệt may trong tháng 5/2020 của Công ty chứng khoán SSI cho thấy một vài công ty trong ngành đã công bố kết quả kinh doanh Quý 1/2020, và hầu hết trong số đó có sự sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái cả về doanh thu thuần và lợi nhuận ròng.

Đánh giá mới đây từ Tổng cục Thống kê cho thấy ngành dệt may là một trong những ngành kinh tế điển hình có tỷ lệ DN chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19 cao với tỷ lệ trên 90%.

Trong 5 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu (XK) dệt may đạt chỉ đạt 10,4 tỷ USD, giảm 14,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngành dệt may được cho là đang hứng chịu tác động kép từ dịch Covid-19 do nguồn nguyên liệu sản xuất vừa mới được cải thiện trong 2 tháng gần đây nhất, nhưng nay lại gặp khó khăn khi thị trường đầu ra chưa thông, đặc biệt là hai thị trường XK chủ lực như EU và Mỹ (riêng Mỹ chiếm tới 46% tổng giá trị XK).

Điều đáng ngại là tình trạng tồn kho sẽ khiến hàng may mặc của các DN mất giá trị nhanh chóng. Bởi lẽ, đặc thù của hàng thời trang là sản xuất theo mùa, quần áo mùa hè không thể để bán sang mùa thu đông hoặc để tới năm sau vì sẽ không còn hợp thời.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng đây là lúc mà các DN dệt may cần liên kết lại với nhau để có những đơn đặt hàng đủ lớn. Và các DN cung ứng cũng phải liên kết với nhau để có một dung lượng sản xuất đủ lớn để có thể cạnh tranh được.

Nhiều ảnh hưởng tiêu cực

“Nếu bây giờ các DN của chúng ta còn nhỏ lẻ quá thì sẽ không đủ năng lực để cạnh tranh với các đối thủ khi có đối tác đặt hàng”, ông Doanh nói.

Theo giới chuyên gia, những DN có tỷ trọng may theo phương thức gia công FOB càng lớn (DN tự bỏ vốn ra để mua nguyên liệu) thì sẽ càng bị ảnh hưởng nặng nề do bị tồn đọng vốn ở cả nguyên phụ liệu và thành phẩm. Còn những DN may theo phương thức CMT (nhận nguyên liệu từ khách hàng) chủ yếu bị tồn đọng vốn ở thành phẩm.

Như trường hợp CTCP Đầu tư và Thương mại TNG, với họ thì Mỹ và EU là hai thị trường XK chủ lực (cách đây 2 năm chiếm trên 80% doanh thu) và TNG chủ yếu may theo phương thức FOB. Việc các đối tác Mỹ và EU dừng nhận hàng khiến TNG bị ảnh hưởng nặng nề do DN bị tồn kho một số lượng lớn thành phẩm và nguyên phụ liệu.

Điều đáng lo là tình trạng không có đơn hàng kéo dài chưa biết đến bao giờ, trong khi dệt may vốn là ngành thâm dụng lao động. Do đó, bên cạnh chi phí nguyên phụ liệu thì chi phí trả lương là khoản chi phí rất lớn đối với các DN dệt may.

Mặt khác, nếu phía DN cho công nhân nghỉ việc thì khi vượt qua được khủng hoảng Covid-19 thì lại rất khó tuyển được lao động có tay nghề để khôi phục sản xuất.

Theo ước tính, một DN quy mô vừa, có khoảng 1.000 lao động thì mỗi tháng phải chi trả khoảng 3 – 4 tỷ đồng, một số DN lớn có từ 5.000 – 10.000 lao động thì số tiền trả lương hàng tháng lên tới hàng chục tỷ đồng.

Trên thực tế, xét quy mô nhỏ ở từng DN, trong thời điểm khó khăn này, mỗi DN có thể tìm kiếm các thị trường ngách, bù đắp một phần thiệt hại từ thị trường Mỹ và EU. Nhưng xét đến quy mô toàn ngành, việc tìm kiếm thị trường khác có dung lượng đủ lớn để thay thế cho thị trường Mỹ và EU là không khả quan.

Việc đẩy mạnh phát triển tiêu thụ tại thị trường nội địa cũng đã được các DN nghĩ tới. Thế nhưng, nhu cầu dệt may nội địa chỉ khoảng 5 tỷ USD/năm, trong khi năng lực sản xuất của cả ngành vào khoảng 40 tỷ USD/năm, việc tăng cường bán hàng ở thị trường nội địa chỉ giúp giảm bớt chứ không thể bù đắp được thiệt hại từ các thị trường XK.

Và nếu tình trạng dịch Covid-19 còn kéo dài trên thế giới thì ước tính ngành dệt may Việt sẽ thiệt hại khoảng 3.000 tỷ đồng mỗi tháng. Nhất là những DN có tỷ trọng doanh thu XK sang Mỹ và EU cao sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực nhất.

Thế Vinh

Tin bài khác
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 được đặt ra cùng yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Tại Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48) ở Singapore, Việt Nam đề xuất ba định hướng ưu tiên nhằm củng cố an ninh lương thực, thúc đẩy nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và đẩy nhanh chuyển đổi số, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp khu vực.
TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

Từ cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo đến công nghệ sinh học biển và dịch vụ môi trường, TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng phạm vi thu hút đầu tư vào kinh tế biển. Danh mục ưu đãi mới được kỳ vọng tạo liên kết giữa các ngành, nhưng bài toán quan trọng là xác định đúng dự án, điều kiện thụ hưởng và cơ chế triển khai để chính sách thực sự đi vào hoạt động kinh doanh.
Mua sắm công mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mua sắm công mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mua sắm công không chỉ là một chính sách hỗ trợ, mà còn là cách mở rộng thị trường thông qua nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Tuy nhiên, để cơ hội này chuyển thành đơn hàng và doanh thu thực chất, cần minh bạch cách tính tỷ lệ ưu tiên, kết quả lựa chọn nhà thầu và giá trị hợp đồng được trao.
Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đẩy nhanh giải phóng mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, phấn đấu bàn giao 97–98% diện tích trong tháng 11/2026, hoàn thành trước ngày 15/12/2026.