Trung Quốc tăng mua, tôm và cá tra dẫn dắt xuất khẩu
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 9/2026 ước đạt 1,135 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng, toàn ngành đạt khoảng 9,103 tỷ USD, tạo cơ sở để hướng tới mục tiêu 12 tỷ USD trong năm nay.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Trong tháng 9 năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 315 triệu USD, tăng 39,9%. Tính chung 9 tháng năm 2026, giá trị xuất khẩu đạt 2,3 tỷ USD, tăng 33%, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch toàn ngành.
![]() |
| Xuất khẩu thủy sản Việt Nam hướng tới 12 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường lớn nhất |
Về mặt hàng, tôm tiếp tục giữ tỷ trọng lớn nhất. Xuất khẩu tôm tháng 9 năm 2026 đạt 467 triệu USD, đưa tổng kim ngạch 9 tháng năm 2026 lên 3,75 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nhu cầu tại các thị trường chưa đồng đều. Theo thông tin được công bố tại Global Shrimp Forum, nhập khẩu tôm của Trung Quốc tăng nhanh hơn tiêu thụ, trong khi nhập khẩu tôm nguyên liệu của EU suy giảm và phân hóa giữa các khu vực. Tại Mỹ, lượng bán tôm đông lạnh trong tháng 8 giảm dù doanh thu tăng.
Cá tra ghi nhận kết quả tích cực hơn trong tháng 9 năm 2026, với kim ngạch khoảng 214 triệu USD, tăng 18,6%. Lũy kế 9 tháng năm 2026, xuất khẩu cá tra đạt 1,74 tỷ USD, tăng 10,7%. Nguồn cung một số loại cá thịt trắng khai thác thắt chặt tạo thêm cơ hội cho sản phẩm Việt Nam. Tại Nhật Bản, việc doanh nghiệp Kyokuyo tiếp tục giới thiệu cá tra qua kênh phân phối chuyên nghiệp cũng là tín hiệu đáng chú ý, dù quy mô thị trường này còn nhỏ.
Trong khi đó, xuất khẩu cá ngừ tháng 9 năm 2026 đạt khoảng 82 triệu USD, tăng 13,1%, đưa kim ngạch 9 tháng năm 2026 lên 716 triệu USD, tăng 3,5%. Triển vọng mặt hàng này vẫn phụ thuộc vào điều kiện nhập khẩu tại Mỹ và yêu cầu chứng từ khai thác tại EU.
Các nhóm hàng khác tiếp tục đóng góp vào tăng trưởng. Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu cá các loại đạt 1,741 tỷ USD, tăng 12,2%; mực và bạch tuộc đạt 606 triệu USD, tăng 15,4%; cua, ghẹ và giáp xác khác đạt 354 triệu USD, tăng 31,6%. Nhuyễn thể có vỏ đạt 231 triệu USD, tăng 25,2%, dù riêng tháng 9 giảm 3,5%.
Mục tiêu 12 tỷ USD đối mặt nhiều thách thức
Bên cạnh Trung Quốc, ASEAN và Hàn Quốc tiếp tục hỗ trợ xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Lũy kế 9 tháng năm 2026, kim ngạch sang ASEAN đạt 620 triệu USD, tăng 21%; Hàn Quốc đạt 652 triệu USD, tăng 6,1%.
Ngược lại, xuất khẩu sang Mỹ trong tháng 9 năm 2026 giảm 3,4%, còn 176 triệu USD. Tính chung 9 tháng năm 2026, thị trường này đạt 1,43 tỷ USD, chỉ tăng 0,9%. Các chi phí thuế bổ sung và yêu cầu liên quan đến MMPA, COA tiếp tục ảnh hưởng đến giao dịch. Tại EU, kim ngạch tháng 9 năm 2026 giảm 12,8%, còn 93 triệu USD; lũy kế đạt 843 triệu USD, giảm 3%. Nhật Bản đạt 1,25 tỷ USD sau 9 tháng năm 2026, tăng nhẹ 0,8%.
VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản quý IV/2026 có thể giảm nhịp sau giai đoạn tăng tốc trong quý III. Nhiều đơn hàng phục vụ tiêu dùng cuối năm đã được nhập khẩu và giao hàng sớm, khiến nhu cầu mua bổ sung khó duy trì mức cao như những tháng trước. Với kết quả 9 tháng ước đạt 9,103 tỷ USD, mục tiêu cả năm 12 tỷ USD vẫn có thể đạt được, song tốc độ tăng trưởng dự kiến thu hẹp.
Khó khăn còn đến từ nguồn nguyên liệu và cạnh tranh quốc tế. Tôm, cá tra và cá rô phi đều đối mặt với hạn chế về nguyên liệu, trong khi người mua thận trọng hơn về giá. Hải sản khai thác cũng gặp khó khi mở rộng sản lượng do yêu cầu về nguồn gốc và khả năng đáp ứng nguyên liệu phù hợp.
Để hỗ trợ doanh nghiệp, VASEP kiến nghị xem xét nâng thời hạn thuê đất phục vụ nuôi trồng thủy sản và phát triển vùng nguyên liệu chế biến xuất khẩu lên 40–50 năm; đồng thời duy trì, bổ sung quy hoạch các khu vực có tiềm năng nuôi trồng và rà soát diện tích đã giao nhưng chưa sử dụng hiệu quả.
Hiệp hội cũng đề xuất Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại bố trí hạn mức tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp có đơn hàng và lịch sử tín dụng tốt. Việc đánh giá tín dụng nên tính đến dòng tiền, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng liên kết nguyên liệu và chu kỳ sản xuất – xuất khẩu.
Trong bối cảnh thị trường phân hóa, khả năng đạt mục tiêu 12 tỷ USD sẽ phụ thuộc vào sức mua trong quý cuối năm, nguồn nguyên liệu và năng lực thích ứng của doanh nghiệp trước các yêu cầu ngày càng cao từ thị trường nhập khẩu.