Chủ nhật 05/07/2026 11:16
Hotline: 024.355.63.010
Kinh doanh

Xếp hạng hiệu suất làm việc có thể làm tổn thương phụ nữ như thế nào ?

15/12/2021 14:30
Nhiều nỗ lực của doanh nghiệp thời đại mới đã được dành cho việc cải thiện bình đẳng giới trong tuyển dụng. Thật không may rằng mặc dù những sáng kiến này có thể giúp các tổ chức có được nhiều ứng viên nữ hơn nhưng chúng thường bị lãng quên khi đề cậ
Xếp hạng hiệu suất làm việc có thể làm tổn thương phụ nữ về cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần.
Xếp hạng hiệu suất làm việc có thể làm tổn thương phụ nữ về cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần. (Ảnh: The Japan Times)

Cụ thể, nhiều công ty sử dụng một số hình thức cơ chế xếp hạng để đánh giá hiệu suất của nhân viên so với nhau, sau đó xác định sự thăng tiến cho phù hợp. Nghiên cứu trước đây đã khám phá nhiều ưu và nhược điểm khác nhau của các hệ thống này, nhưng trong một lĩnh vực thì vẫn đề này vẫn chưa được khám phá nhiều là tác động của chúng đối với đại diện giới.

Bằng cách nào mà một hệ thống đánh giá có vẻ khách quan, không thiên vị lại có thể thúc đẩy sự bất công bằng? Một hệ thống quản lý hiệu suất trong đó các nhân viên được xếp hạng với nhau tạo ra một loại môi trường cạnh tranh cụ thể. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nam giới và phụ nữ có thể phản ứng khác nhau khi đối mặt với sự cạnh tranh nhưng những nghiên cứu này chủ yếu xem xét các môi trường mà mọi người cạnh tranh để giành giật nguồn lực vật chất hoặc tài chính khan hiếm. Xếp hạng hiệu suất không nhất thiết liên quan đến cạnh tranh về các nguồn lực hữu hình nhưng chúng tạo ra sự cạnh tranh cho một loại tài nguyên khác: địa vị xã hội.

Để hiểu rõ hơn xếp hạng địa vị xã hội ảnh hưởng khác nhau đến nam giới và phụ nữ như thế nào (và kết quả là các hệ thống đánh giá này có thể cản trở nỗ lực của các tổ chức trong việc giữ chân phụ nữ như thế nào), Klarita Gërxhani - 1 giáo sư xã hội học kinh tế tại Viện Đại học Châu Âu, Florence, Ý – và các cộng sự đã tiến hành một loạt các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm với các sinh viên ở Tây Ban Nha. Sau đó giáo sư này đã nhân rộng quy ra thí nghiệm ra Ý và Hà Lan. Những người tham gia được yêu cầu hoàn thành các bài toán đơn giản trong đó họ tìm kiếm các con số và cộng chúng lại và họ được thông báo rằng họ sẽ nhận được một Euro cho mỗi bài toán mà họ hoàn thành chính xác. Điều này có nghĩa là tất cả họ đều được khuyến khích như nhau để giải quyết các vấn đề và do đó không phải cạnh tranh về các nguồn tài chính. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã nói với một nhóm người tham gia rằng một người ngang hàng sẽ xếp hạng họ với nhau dựa trên hiệu suất của họ trong khi những người tham gia trong nhóm khác không được nói bất cứ điều gì. Điều này cho phép giáo sư Klarita và cộng sự của bà tách biệt tác động của xếp hạng địa vị xã hội.

Nói rõ hơn về thí nghiệm thì điều duy nhất thay đổi giữa hai nhóm là liệu họ có được thông báo trước rằng họ sẽ được xếp hạng hay không - cả hai đều được khuyến khích tài chính theo cách giống hệt nhau. Tuy nhiên, giáo sư và cộng sự nhận thấy rằng chỉ cần dự đoán rằng họ sẽ được xếp hạng đã tác động đáng kể đến hiệu suất của những người tham gia và tác động đó là khác nhau đáng kể đối với nam giới và phụ nữ. Khi những người tham gia không được thông báo rằng họ sẽ được xếp hạng, nam giới và phụ nữ thực hiện ở cùng một cấp độ về cơ bản. Nhưng khi họ được thông báo một cách rõ ràng rằng họ sẽ được xếp hạng, nam giới thể hiện tốt hơn những người không được thông báo bất cứ điều gì, trong khi nữ giới lại thể hiện kém hơn rất nhiều. Điều này dẫn đến sự khác biệt đáng kể về hiệu suất thực: Khi họ biết mình sẽ được xếp hạng, những người tham gia là nam giới đã giải quyết được nhiều vấn đề hơn gần 40% so với những người tham gia là nữ giới.

Điều gì có thể thúc đẩy sự chênh lệch giới tính đáng kể này? Giáo sư Klarita và cộng sự đã tiến hành một loạt các thử nghiệm khác được thiết kế để khám phá câu hỏi này và mặc dù phân tích của nhóm nghiên cứ vẫn đang được xem xét nhưng kết quả sơ bộ chỉ ra rằng ảnh hưởng có thể xuất phát từ những định kiến và niềm tin ăn sâu vào nam giới và phụ nữ. Cụ thể, dữ liệu của nhóm nghiên cứu cho thấy rằng niềm tin của nam giới (dù có ý thức hay trong tiềm thức) rằng họ hoạt động tốt hơn phụ nữ trong môi trường cạnh tranh khiến họ trở nên nổi trội hơn trong khi việc phụ nữ tuân thủ tiêu chuẩn giới tính khuôn mẫu là ưu tiên không làm hại người khác khiến họ hoạt động kém hơn. Điều này rất quan trọng vì nó cho thấy rằng sự khác biệt về giới do môi trường cạnh tranh gây ra không thể chỉ đơn giản là do quan niệm sai lầm rằng phụ nữ “theo 1 cách tự nhiên” kém cạnh tranh hơn nam giới. Thay vào đó, những môi trường này đã gây ra những thành kiến được xây dựng trong xã hội - đó là giả định rằng nam giới vượt trội hơn và phụ nữ nên tử tế với người khác - từ đó dẫn đến sự khác biệt về giới tính trong hiệu suất làm việc.

Điều thú vị là trong một nghiên cứu tiếp theo, giáo sư Klarita và cộng sự đã phát hiện ra rằng khi những người tham gia được cho biết rằng người đồng cấp sẽ xếp hạng họ là nam giới khi nam giới có mong muốn mạnh mẽ hơn nhiều so với phụ nữ để duy trì tình trạng cạnh tranh này trong khi khi người xếp hạng là nữ thì nam giới và phụ nữ cho xu hướng tương tự để tiếp tục sử dụng hệ thống xếp hạng. Mặc dù việc xác định nguyên nhân của sự khác biệt này nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của giáo sư Klarita nhưng những phát hiện này cho thấy rằng sự khác biệt về giới liên quan đến hệ thống đánh giá cạnh tranh có thể liên quan đến khái niệm được ghi chép đầy đủ về “các mối đe dọa nam tính” - tức là hiện tượng nam giới cảm thấy áp lực hơn để thể hiện sự nam tính trong những tình huống đe dọa sự nam tính của họ chẳng hạn như bị người đàn ông khác đánh giá.

Tóm lại, những phát hiện này cho thấy rằng các hệ thống xếp hạng xã hội cạnh tranh có thể có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất và quan trọng hơn, chúng có thể có những tác động rất khác nhau đối với nam giới và phụ nữ. Điều đó nói lên rằng thật khó để tưởng tượng một thế giới mà sự cạnh tranh bị loại bỏ hoàn toàn - vậy làm thế nào các tổ chức có thể gặt hái được những lợi ích từ môi trường làm việc cạnh tranh mà không khiến nhân viên nữ của họ thất bại? Sau đây là một số gợi ý quan trọng:

Xây dựng nhận thức

Đầu tiên, như với bất kỳ dạng bất công nào, bước đầu tiên để giải quyết vấn đề này là nhận ra nó đã và đang tồn tại ở đó. Các nhà quản lý phải làm việc để xây dựng nhận thức về cách các hệ thống đánh giá truyền thống và “mặc định” có thể vô tình tạo ra một môi trường khiến nam giới hoạt động tốt hơn và phụ nữ hoạt động kém hơn. Thay vì chỉ đơn giản viết rằng hiệu suất thấp hơn là sự thiếu sót của cá nhân hoặc tệ hơn là quy nó là định kiến có hại trên cơ sở giới thì các nhà quản lý nên làm việc để xác định xem hệ thống đánh giá hiệu suất của họ trên thực tế có thể góp phần vào vấn đề như thế nào. Điều này có nghĩa quan trọng là phải thừa nhận không chỉ những mặt trái tiềm ẩn của các hệ thống cạnh tranh nói chung mà còn cả những cách thức cạnh tranh để giành địa vị xã hội cụ thể có thể gây hại cho nhân viên nữ. Trong khi một hệ thống có vẻ không có tính cạnh tranh nếu nó không dẫn đến một cuộc chiến có tổng bằng không chỉ cho các nguồn lực hữu hình (chẳng hạn như ngân sách, tiền lương hoặc văn phòng ở góc) mà còn nếu chỉ riêng yếu tố địa vị xã hội cũng đủ để tạo ra sự chênh lệch đáng kể về giới.

Xem xét các hệ thống đánh giá thay thế

Tiếp theo, nếu có thể thì các tổ chức nên xem xét liệu hệ thống đánh giá của họ có phải được đại tu hay không. Vấn đề ban đầu có vẻ tốn kém và phức tạp nhưng phân tích chi phí - lợi ích về tác động của các mô hình cạnh tranh lên toàn bộ lực lượng lao động (và đặc biệt, lợi ích đối với hiệu suất của nam giới có thể vượt trội như thế nào do tác động tiêu cực đến hiệu suất và động lực của phụ nữ) có thể minh họa giá trị trong việc thử một cái gì đó mới. Nhiều công ty đã đi tiên phong trong các phương pháp tiếp cận hiệu quả để thay thế các hệ thống cũ chẳng hạn như đánh giá thăng tiến tạm thời trong đó các cá nhân được so sánh với thành tích trước đây của họ thay vì so với đồng nghiệp của họ. Ví dụ, gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei được biết đến với việc đánh giá nhân viên về sự phát triển của họ theo thời gian thay vì tập trung vào những so sánh xã hội khiến mọi người chống lại nhau.

Thích ứng với các hệ thống hiện có

Cuối cùng nếu việc xem xét lại hoàn toàn các mô hình cạnh tranh hiện có là điều không cần bàn cãi thì vẫn có những bước mà các nhà quản lý có thể thực hiện để giảm thiểu tác hại trong những hệ thống hiện có. Đặc biệt trong nghiên cứu của giáo sư Glarita cho thấy rằng một trong những lý do chính khiến phụ nữ hoạt động kém hơn trong môi trường cạnh tranh là do họ được kỳ vọng là người chu đáo, khiến họ cố tình tránh thành công vì lo ngại rằng thành công của họ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến người khác. Để giải quyết vấn đề này, các nhà quản lý có thể khuyến khích các đội nhóm của họ thực hiện các chính sách và các buổi đào tạo nhằm chống lại các định kiến giới chẳng hạn như giả định rằng phụ nữ nên được đồng cảm và quan tâm; trong khi nam giới nên độc lập, năng nổ, cạnh tranh và chấp nhận rủi ro.

Ngoài ra, các tổ chức nên làm việc để thiết lập các tiêu chí đánh giá khách quan và rõ ràng để các thành kiến và giả định vô thức ít có khả năng thúc đẩy đánh giá hiệu suất. Mặc dù điều này nghe có vẻ hiển nhiên nhưng những chính sách như thế này có thể mang lại hiệu quả trông thấy trong việc giảm thiểu sự mơ hồ về bình đẳng giới nơi công sở và do đó giảm thiểu sức mạnh của những định kiến có hại.

Từ Amazon đến GE (General Electric – 1 một tập đoàn đa quốc gia Mỹ hoạt động trong đa lĩnh vực bao gồm Năng lượng, Công nghệ, Cơ sở hạ tầng, vốn Tài chính và tiêu dùng công nghiệp) – 2 doanh nghiệp từ lâu đã bảo vệ hệ thống đánh giá trong đó đánh giá và thăng chức dựa trên sự so sánh giữa các nhân viên. Trong khi các mô hình này có thể hiệu quả trong một số tình huống, nhiều người đề xuất sử dụng chúng lại bỏ qua một tác dụng phụ quan trọng: Các hệ thống cạnh tranh có thể thúc đẩy sự chênh lệch đáng kể về giới và do đó ngăn các tổ chức giữ chân các thành viên nữ trong nhóm có thể có năng suất cao theo một hệ thống thay thế. Để đạt được tiến bộ thực sự trong việc giảm bất bình đẳng giới tại nơi làm việc, các doanh nghiệp phải tìm hiểu và đưa ra kết luận cho riêng mình rằng hệ thống nội bộ của chính họ có thể đóng góp như thế nào vào vấn đề và nỗ lực để cải thiện chúng.

Đức Nguyễn

Tin bài khác
Ford Motor 123 năm: Không phát minh ra ô tô nhưng thay đổi cách cả thế giới di chuyển

Ford Motor 123 năm: Không phát minh ra ô tô nhưng thay đổi cách cả thế giới di chuyển

Năm 1903, Henry Ford không phải người đầu tiên chế tạo ô tô. Karl Benz đã làm điều đó từ năm 1885. Daimler, Peugeot và nhiều tên tuổi châu Âu khác đã đi trước ông cả thập kỷ. Nhưng Henry Ford đã làm một thứ mà không ai trong số đó làm được, đó là phát minh ra hệ thống sản xuất khiến ô tô trở thành thứ mà người bình thường có thể mua được.
Merck 358 năm: Từ hiệu thuốc gia đình trở thành tập đoàn khoa học và công nghệ lâu đời nhất thế giới

Merck 358 năm: Từ hiệu thuốc gia đình trở thành tập đoàn khoa học và công nghệ lâu đời nhất thế giới

Năm 1668, Friedrich Jacob Merck mua lại một hiệu thuốc nhỏ mang tên Engel Apotheke tại thành phố Darmstadt, Đức. Ông không biết mình vừa đặt nền móng cho thứ sẽ trở thành một trong những tập đoàn khoa học và công nghệ lớn nhất hành tinh 358 năm sau đó.
American Express 176 năm: Niềm tin khách hàng là tài sản không thể sao chép

American Express 176 năm: Niềm tin khách hàng là tài sản không thể sao chép

Năm 1850, tại Buffalo (New York, Mỹ), Henry Wells, William Fargo và John Butterfield thành lập American Express với nhiệm vụ ban đầu là vận chuyển hàng hóa và tiền mặt an toàn trên những tuyến đường đang mở rộng về phía Tây nước Mỹ. Ít ai có thể hình dung doanh nghiệp vận tải nhỏ ngày ấy sẽ phát triển thành một trong những thương hiệu dịch vụ tài chính giá trị nhất thế giới. Điều làm nên sức bền của American Express không chỉ là quy mô hay công nghệ, mà còn là khả năng xây dựng niềm tin với khách hàng qua nhiều thế hệ.
Schneider Electric gần 190 năm: Công thức tồn tại ở tâm điểm mọi cuộc cách mạng công nghiệp toàn cầu

Schneider Electric gần 190 năm: Công thức tồn tại ở tâm điểm mọi cuộc cách mạng công nghiệp toàn cầu

Năm 1836, tại một xưởng luyện kim nhỏ ở Le Creusot, nước Pháp, anh em nhà Schneider không hề biết rằng họ vừa đặt viên gạch đầu tiên cho một doanh nghiệp sẽ tồn tại gần hai thế kỷ, đi qua đúng bốn cuộc cách mạng công nghiệp mà không một lần đứng ngoài cuộc. Từ thép, họ chuyển sang điện. Từ điện, họ chuyển sang tự động hóa. Và hôm nay, khi cả thế giới đang chạy đua với AI và chuyển đổi xanh, Schneider Electric một lần nữa đứng ở chính giao điểm mà nhân loại đang hướng tới. Đó không phải may mắn. Đó là một công thức được lặp lại có chủ đích suốt 190 năm.
Hermès gần 190 năm: Thương hiệu chậm chắc lại càng đắt giá

Hermès gần 190 năm: Thương hiệu chậm chắc lại càng đắt giá

Trong một thế giới chạy đua với tốc độ, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI), Hermès vẫn kiên định với một con đường hoàn toàn khác. Thương hiệu gần 190 năm tuổi này không bán sự hào nhoáng hay địa vị theo cách thông thường. Điều Hermès mang đến là giá trị của thời gian, tay nghề thủ công và sự tỉ mỉ, những yếu tố rất khó sao chép bằng công nghệ hay thuật toán.
Hitachi: Hơn 115 năm xây dựng hạ tầng công nghệ cho thế giới

Hitachi: Hơn 115 năm xây dựng hạ tầng công nghệ cho thế giới

Có những thương hiệu được biết đến nhờ một sản phẩm đình đám. Có những thương hiệu trở thành biểu tượng nhờ một phát minh thay đổi thời đại. Nhưng Hitachi lại chọn một con đường hoàn toàn khác, đps là âm thầm xây dựng những "xương sống" vô hình của nền kinh tế hiện đại.
Tăng năng lực cảnh báo sớm, giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó phòng vệ thương mại

Tăng năng lực cảnh báo sớm, giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó phòng vệ thương mại

Trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng gia tăng tại nhiều thị trường xuất khẩu lớn, việc xây dựng cơ chế cảnh báo sớm được xem là giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp Việt Nam chủ động nhận diện rủi ro, nâng cao năng lực ứng phó và bảo vệ hoạt động xuất khẩu.
Peugeot: Hành trình hơn 216 năm từ xưởng thép nhỏ đến biểu tượng ô tô toàn cầu

Peugeot: Hành trình hơn 216 năm từ xưởng thép nhỏ đến biểu tượng ô tô toàn cầu

Năm 1810, khi Napoleon Bonaparte còn đang định hình bản đồ châu Âu, một gia đình tại vùng Franche-Comté của Pháp bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực luyện kim. Thời điểm đó, điện chưa xuất hiện trong đời sống thường nhật, ô tô vẫn là khái niệm chưa tồn tại và cuộc cách mạng công nghiệp hiện đại mới chỉ ở giai đoạn đầu. Ít ai có thể hình dung rằng hơn hai thế kỷ sau, doanh nghiệp ấy sẽ trở thành một trong những thương hiệu ô tô lâu đời nhất thế giới vẫn còn hoạt động.
135 năm của Philips: Bài học về sự đổi thay trước khi quá muộn

135 năm của Philips: Bài học về sự đổi thay trước khi quá muộn

Có những doanh nghiệp được nhớ đến bởi một sản phẩm mang tính biểu tượng, Philips lại khác. Trong hơn một thế kỷ tồn tại, thương hiệu này liên tục thay đổi đến mức mỗi thế hệ người tiêu dùng lại nhớ tới Philips theo một cách khác nhau. Người lớn tuổi nhớ tới bóng đèn, radio và tivi. Thế hệ sau nhớ tới đầu đĩa CD, máy cạo râu hay đồ gia dụng. Còn ngày nay, Philips được biết đến nhiều hơn với các thiết bị y tế và công nghệ chăm sóc sức khỏe.
Sumitomo 436 năm tuổi: Vì sao tập đoàn doanh nghiệp lâu đời nhất thế giới vẫn phát triển mạnh mẽ?

Sumitomo 436 năm tuổi: Vì sao tập đoàn doanh nghiệp lâu đời nhất thế giới vẫn phát triển mạnh mẽ?

Khi hàng nghìn doanh nghiệp biến mất sau mỗi cuộc khủng hoảng, một tập đoàn Nhật Bản vẫn tồn tại suốt hơn 436 năm, đi qua chiến tranh, suy thoái kinh tế, đại dịch và nay là làn sóng AI. Điều gì giúp Sumitomo trường tồn mà không phải quy mô tài sản hay công nghệ vượt trội?
Rolex: Lý do trường tồn hơn 120 năm của thương hiệu toàn cầu

Rolex: Lý do trường tồn hơn 120 năm của thương hiệu toàn cầu

Mỗi năm, Rolex bán ra hàng triệu chiếc đồng hồ và tạo ra doanh thu hàng chục tỷ USD. Nhưng điều làm nên vị thế đặc biệt của thương hiệu này chưa bao giờ chỉ là những con số. Trong khi nhiều doanh nghiệp nỗ lực sản xuất nhiều hơn, quảng cáo nhiều hơn và xuất hiện nhiều hơn để giành sự chú ý, Rolex lại chọn con đường gần như ngược lại. Hãng đồng hồ với thương hiệu toàn cầu luôn chủ động tạo ra sự khan hiếm, hạn chế quảng cáo ồn ào và kiên nhẫn bồi đắp giá trị suốt hơn một thế kỷ.
Tổng Giám đốc ngân hàng MB: Tái cấu trúc tín dụng, dồn lực vào FDI và bán lẻ

Tổng Giám đốc ngân hàng MB: Tái cấu trúc tín dụng, dồn lực vào FDI và bán lẻ

Ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB cho rằng, tăng trưởng tín dụng cần đi kèm tái cấu trúc dòng vốn, ưu tiên FDI, bán lẻ và hộ kinh doanh nhằm tạo giá trị bền vững cho nền kinh tế.
140 năm Bosch và bí mật trường tồn: Thà mất tiền còn hơn

140 năm Bosch và bí mật trường tồn: Thà mất tiền còn hơn

Lịch sử kinh doanh thế giới đã chứng kiến một cái tên đã đi qua hai cuộc chiến tranh thế giới, hàng loạt cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều cuộc cách mạng công nghệ liên tiếp, và vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ sau gần 140 năm tồn tại. Đó là Bosch.
IBM sống sót nhờ bí mật: Dám từ bỏ chính mình

IBM sống sót nhờ bí mật: Dám từ bỏ chính mình

Lịch sử kinh doanh thế giới từng chứng kiến rất nhiều đế chế tưởng như bất khả chiến bại rồi biến mất chỉ trong vài năm. Kodak từng thống trị ngành nhiếp ảnh. Nokia từng là biểu tượng của điện thoại di động. BlackBerry từng được xem là chuẩn mực của giới doanh nhân toàn cầu. Nhưng rồi tất cả đều trở thành ký ức. Trong khi đó, có một doanh nghiệp ra đời từ năm 1911, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, sự xuất hiện của máy tính cá nhân, Internet, điện toán đám mây và giờ là trí tuệ nhân tạo nhưng vẫn tồn tại và tiếp tục tạo ra giá trị. Đó là IBM.
Làn sóng nhân sự quốc tế tái định hình chiến lược phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại

Làn sóng nhân sự quốc tế tái định hình chiến lược phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại

Sự gia tăng lãnh đạo quốc tế trong ngân hàng Việt phản ánh bước chuyển từ tăng trưởng quy mô sang nâng cao chất lượng quản trị, kết hợp kinh nghiệm toàn cầu với hiểu biết bản địa nhằm nâng sức cạnh tranh và thu hút vốn ngoại.