![]() |
Một công nhân có mười năm kinh nghiệm vận hành máy móc chưa chắc đáp ứng ngay yêu cầu của dây chuyền sản xuất tự động. Một nhân viên hành chính thành thạo công việc giấy tờ có thể gặp khó khăn khi doanh nghiệp chuyển sang quản trị bằng phần mềm. Trong khi đó, áp lực tiền thuê nhà, sinh hoạt và nuôi con khiến nhiều người không thể chờ đợi quá lâu để tìm công việc phù hợp.
Với người thất nghiệp, có việc làm trở lại là nhu cầu cấp thiết. Nhưng tìm được việc nhanh chưa đồng nghĩa với phục hồi thu nhập, càng không bảo đảm khả năng gắn bó lâu dài. Một công việc mới có mức lương thấp, không phù hợp kỹ năng hoặc thiếu cơ hội phát triển có thể đẩy người lao động vào vòng xoáy chuyển việc liên tục.
Chính vì vậy, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cần được nhìn nhận rộng hơn chức năng bù đắp thu nhập. Khi gắn với tư vấn nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và kết nối tuyển dụng, chính sách có thể góp phần giải quyết một vấn đề căn bản của thị trường lao động: người tìm việc và doanh nghiệp tuyển dụng chưa gặp nhau ở đúng yêu cầu chuyên môn.
Theo Cục Thống kê, quý IV/2025, cả nước có khoảng 52,7 triệu người có việc làm, tăng 477.500 người so với quý trước. Thu nhập bình quân đạt 8,7 triệu đồng/người/tháng, tăng 508.000 đồng so với cùng kỳ năm 2024.
Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,5%. Tính chung cả năm 2025, tỷ lệ này là 29,2%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước.
Đáng chú ý, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý IV/2025 lên tới 784.100 người, tăng 88.300 người so với quý III. Tỷ lệ thiếu việc làm tăng lên 1,67%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở mức 2,22%.
Những chỉ tiêu trên cho thấy số lượng việc làm tăng chưa đồng nghĩa với việc mọi lao động đều có đủ thời gian làm việc, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp như mong muốn.
Vấn đề càng đáng quan tâm khi cơ cấu việc làm tiếp tục dịch chuyển. Trong quý IV/2025, khu vực dịch vụ sử dụng khoảng 21,5 triệu lao động, công nghiệp và xây dựng 17,8 triệu người. Sự phát triển của các ngành này kéo theo nhu cầu về kỹ năng vận hành thiết bị, quản lý chất lượng, công nghệ thông tin và năng lực phối hợp trong môi trường sản xuất hiện đại.
Ở chiều ngược lại, không ít người mất việc chỉ có kinh nghiệm trong một công đoạn hoặc một vị trí chuyên biệt. Khi doanh nghiệp thay đổi công nghệ, những kỹ năng từng giúp họ duy trì việc làm nhiều năm có thể không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu tuyển dụng.
Trong kinh tế lao động, đây là tình trạng lệch pha kỹ năng giữa cung và cầu lao động. Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển người, nhưng người tìm việc không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, trình độ hoặc kinh nghiệm. Kết quả là vị trí tuyển dụng vẫn để trống trong khi người lao động tiếp tục thất nghiệp.
Dữ liệu BHTN cho thấy rõ thách thức này. Theo Bản tin Thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, cả nước ghi nhận 166.277 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp và 178.667 người được ban hành quyết định hưởng trong cùng kỳ.
Đáng chú ý, 61,2% người nộp hồ sơ không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật. Nhóm có trình độ đại học trở lên chiếm 19,2%, cao đẳng chiếm 5,9%.
Việc người không có bằng cấp, chứng chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong số hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực thích ứng nghề nghiệp. Tuy nhiên, không thể từ đó kết luận tất cả những người này đều thiếu kỹ năng. Nhiều lao động có kinh nghiệm thực hành nhưng chưa được đánh giá, công nhận bằng chứng chỉ chính thức.
Bài toán chính sách vì thế không đơn giản là đưa người thất nghiệp trở lại trường học. Điều cần thiết là xác định họ đã có những kỹ năng gì, kỹ năng nào còn phù hợp và cần bổ sung phần nào để đáp ứng công việc mới.
Đối với lao động trung niên, yêu cầu này càng cấp thiết. Người đã làm việc nhiều năm thường có lợi thế về kỷ luật, kinh nghiệm và khả năng xử lý tình huống, nhưng có thể gặp trở ngại khi tiếp cận công nghệ mới hoặc tham gia khóa đào tạo kéo dài.
Nếu buộc phải chuyển sang một ngành hoàn toàn khác, họ còn đối mặt với chi phí học tập, thời gian thích nghi và nguy cơ phải bắt đầu lại ở mức lương thấp hơn.
Trong điều kiện đó, hỗ trợ thu nhập chỉ là bước đầu. Muốn tránh thất nghiệp tái diễn, người lao động cần được tiếp cận thông tin nghề nghiệp đáng tin cậy và những chương trình đào tạo thực sự có khả năng chuyển hóa thành việc làm.
| Bảo hiểm thất nghiệp cần được đánh giá không chỉ bằng số người hưởng trợ cấp mà còn bằng khả năng đưa người lao động trở lại thị trường với kỹ năng phù hợp hơn. Nếu đào tạo nghề không xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng thực tế, người lao động có thể hoàn thành khóa học nhưng vẫn khó tìm việc. Cần theo dõi cả thu nhập và thời gian duy trì việc làm sau đào tạo. Chuyên gia chính sách an sinh xã hội Nguyễn Hồng Duyên |
Một trong những chức năng quan trọng của BHTN là giảm áp lực phải chấp nhận ngay công việc đầu tiên xuất hiện.
Khi mất nguồn lương, người lao động thường đứng trước lựa chọn khó khăn: dành thời gian tìm việc phù hợp hoặc nhanh chóng nhận một công việc bất kỳ để duy trì sinh hoạt. Nếu không có khoản dự phòng, họ dễ phải ưu tiên thu nhập trước mắt hơn triển vọng nghề nghiệp dài hạn.
Trợ cấp thất nghiệp giúp giảm bớt áp lực này, nhưng giá trị kinh tế của chính sách không nằm ở việc kéo dài thời gian thất nghiệp. Mục tiêu phải là tạo điều kiện để người lao động tìm được công việc phù hợp hơn trong thời gian hợp lý.
Trong kinh tế học lao động, hiệu quả kết nối việc làm không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tuyển dụng, mà còn ở mức độ phù hợp giữa năng lực người lao động với yêu cầu công việc, tiền lương và khả năng duy trì việc làm.
![]() |
Một người được giới thiệu vào vị trí có mức lương thấp hơn nhiều so với trước, không sử dụng được kinh nghiệm tích lũy hoặc phải nghỉ việc sau vài tháng khó có thể được xem là trường hợp chuyển đổi nghề nghiệp thành công.
Theo Bản tin Thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, hệ thống dịch vụ việc làm ghi nhận 576.471 lượt người được tư vấn, 41.472 người được giới thiệu việc làm và 6.831 người được hỗ trợ học nghề.
Các chỉ tiêu này phản ánh những hoạt động hỗ trợ khác nhau, không phải số người đã có việc làm ổn định. Đặc biệt, số người được hỗ trợ học nghề còn khá khiêm tốn nếu đặt cạnh quy mô người được giải quyết trợ cấp thất nghiệp, dù không thể lấy hai con số của cùng một quý để tính trực tiếp tỷ lệ tham gia đào tạo.
Khoảng cách ấy gợi mở một câu hỏi: liệu chính sách đào tạo nghề đã trở thành lựa chọn thực sự hấp dẫn đối với người thất nghiệp, hay phần lớn người lao động vẫn chỉ tiếp cận BHTN như một khoản hỗ trợ tài chính?
Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm 2025 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý mới cho hoạt động hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
Theo quy định, người lao động đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo dưới ba tháng được hỗ trợ học phí tối đa 4,5 triệu đồng/người/khóa. Với khóa đào tạo từ đủ ba tháng trở lên, mức hỗ trợ tối đa là 1,5 triệu đồng/người/tháng.
Người tham gia còn được hỗ trợ tiền ăn 50.000 đồng cho mỗi ngày thực học. Thời gian hỗ trợ đào tạo tối đa sáu tháng.
Việc bổ sung hỗ trợ tiền ăn có ý nghĩa thực tế bởi chi phí học nghề không chỉ nằm ở học phí. Với người thất nghiệp, mỗi ngày đến lớp còn phát sinh chi phí đi lại, sinh hoạt và thời gian không thể dành cho công việc tạo thu nhập khác.
Tuy nhiên, tăng mức hỗ trợ chưa đủ bảo đảm hiệu quả đào tạo. Một khóa học chỉ có giá trị khi nội dung đáp ứng yêu cầu tuyển dụng và người hoàn thành có khả năng sử dụng kỹ năng mới trong công việc.
Thay vì tổ chức đào tạo theo những nghề sẵn có của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cần chuyển sang thiết kế chương trình dựa trên nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp. Những khóa học ngắn về vận hành máy tự động, kiểm soát chất lượng, kỹ năng số hoặc bảo trì thiết bị có thể phù hợp với người đã có nền tảng sản xuất.
| Sau nhiều năm làm công nhân, điều tôi lo nhất không chỉ là mất lương mà còn là không biết mình có đáp ứng được công việc mới hay không. Tôi muốn học thêm kỹ năng vận hành máy móc hiện đại, nhưng vẫn phải lo tiền nhà và sinh hoạt. Nếu vừa có hỗ trợ thu nhập, vừa được học nghề gắn với nơi tuyển dụng, tôi sẽ yên tâm hơn khi chuyển việc. Nguyễn Văn Đạt - công nhân nhà máy Vĩnh Cát |
Đối với lao động lớn tuổi, đào tạo bổ sung trong ngành nghề quen thuộc nhiều khi hiệu quả hơn đào tạo lại từ đầu. Việc công nhận kỹ năng đã tích lũy, kết hợp học lý thuyết với thực hành tại doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian chuyển đổi.
Doanh nghiệp cũng cần tham gia từ khâu xác định tiêu chuẩn kỹ năng, xây dựng chương trình đến tiếp nhận người học. Khi đó, đào tạo không còn là hoạt động tách rời tuyển dụng mà trở thành một phần của quá trình cung ứng nhân lực.
Điểm đáng chú ý khác của chính sách BHTN là cơ chế hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm trong những trường hợp đủ điều kiện. Theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, mức hỗ trợ tối đa là một triệu đồng/người/tháng, thời gian không quá sáu tháng.
Cơ chế này mở thêm hướng tiếp cận mang tính phòng ngừa: nâng cao kỹ năng khi người lao động còn đang làm việc, thay vì chỉ đào tạo sau khi họ đã mất việc.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là vấn đề đáng quan tâm khi chi phí tuyển dụng, đào tạo lại và gián đoạn sản xuất có thể lớn hơn chi phí nâng cấp kỹ năng cho lực lượng lao động hiện có.
Dù vậy, hiệu quả BHTN không nên dừng ở số hồ sơ được giải quyết, số người tham gia khóa học hay số lượt giới thiệu việc làm. Cần theo dõi tỷ lệ có việc làm sau đào tạo, thu nhập trước và sau chuyển đổi, thời gian duy trì công việc và mức độ phù hợp của kỹ năng được đào tạo.
Một thị trường lao động vận hành hiệu quả không phải nơi người thất nghiệp được đưa vào bất kỳ vị trí trống nào nhanh nhất, mà là nơi người lao động có thể chuyển sang công việc phù hợp với năng lực và nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
BHTN phát huy đầy đủ vai trò khi giúp người mất việc vượt qua khó khăn trước mắt, đồng thời tạo cơ hội nâng cao giá trị sức lao động. Đích đến của chính sách không chỉ là chấm dứt một đợt thất nghiệp, mà còn giảm nguy cơ người lao động phải quay lại điểm xuất phát sau lần chuyển việc tiếp theo.