Thứ bảy 10/10/2026 01:16
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Nghiên cứu - Dữ liệu

Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong chuyển đổi nghề nghiệp

Quý IV/2025, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 29,5%, trong khi thị trường việc làm ngày càng đòi hỏi kỹ năng chuyên môn và khả năng thích ứng công nghệ. Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ giúp người lao động có thu nhập trong thời gian mất việc, mà còn tạo điều kiện để họ học nghề, chuyển đổi công việc và tránh vòng xoáy thất nghiệp tái diễn.
Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong chuyển đổi nghề nghiệp

Một công nhân có mười năm kinh nghiệm vận hành máy móc chưa chắc đáp ứng ngay yêu cầu của dây chuyền sản xuất tự động. Một nhân viên hành chính thành thạo công việc giấy tờ có thể gặp khó khăn khi doanh nghiệp chuyển sang quản trị bằng phần mềm. Trong khi đó, áp lực tiền thuê nhà, sinh hoạt và nuôi con khiến nhiều người không thể chờ đợi quá lâu để tìm công việc phù hợp.

Với người thất nghiệp, có việc làm trở lại là nhu cầu cấp thiết. Nhưng tìm được việc nhanh chưa đồng nghĩa với phục hồi thu nhập, càng không bảo đảm khả năng gắn bó lâu dài. Một công việc mới có mức lương thấp, không phù hợp kỹ năng hoặc thiếu cơ hội phát triển có thể đẩy người lao động vào vòng xoáy chuyển việc liên tục.

Chính vì vậy, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cần được nhìn nhận rộng hơn chức năng bù đắp thu nhập. Khi gắn với tư vấn nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và kết nối tuyển dụng, chính sách có thể góp phần giải quyết một vấn đề căn bản của thị trường lao động: người tìm việc và doanh nghiệp tuyển dụng chưa gặp nhau ở đúng yêu cầu chuyên môn.

Thị trường lao động phục hồi nhưng khoảng cách kỹ năng vẫn lớn

Theo Cục Thống kê, quý IV/2025, cả nước có khoảng 52,7 triệu người có việc làm, tăng 477.500 người so với quý trước. Thu nhập bình quân đạt 8,7 triệu đồng/người/tháng, tăng 508.000 đồng so với cùng kỳ năm 2024.

Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,5%. Tính chung cả năm 2025, tỷ lệ này là 29,2%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước.

Đáng chú ý, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý IV/2025 lên tới 784.100 người, tăng 88.300 người so với quý III. Tỷ lệ thiếu việc làm tăng lên 1,67%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở mức 2,22%.

Những chỉ tiêu trên cho thấy số lượng việc làm tăng chưa đồng nghĩa với việc mọi lao động đều có đủ thời gian làm việc, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp như mong muốn.

Vấn đề càng đáng quan tâm khi cơ cấu việc làm tiếp tục dịch chuyển. Trong quý IV/2025, khu vực dịch vụ sử dụng khoảng 21,5 triệu lao động, công nghiệp và xây dựng 17,8 triệu người. Sự phát triển của các ngành này kéo theo nhu cầu về kỹ năng vận hành thiết bị, quản lý chất lượng, công nghệ thông tin và năng lực phối hợp trong môi trường sản xuất hiện đại.

Ở chiều ngược lại, không ít người mất việc chỉ có kinh nghiệm trong một công đoạn hoặc một vị trí chuyên biệt. Khi doanh nghiệp thay đổi công nghệ, những kỹ năng từng giúp họ duy trì việc làm nhiều năm có thể không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu tuyển dụng.

Trong kinh tế lao động, đây là tình trạng lệch pha kỹ năng giữa cung và cầu lao động. Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển người, nhưng người tìm việc không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, trình độ hoặc kinh nghiệm. Kết quả là vị trí tuyển dụng vẫn để trống trong khi người lao động tiếp tục thất nghiệp.

Dữ liệu BHTN cho thấy rõ thách thức này. Theo Bản tin Thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, cả nước ghi nhận 166.277 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp và 178.667 người được ban hành quyết định hưởng trong cùng kỳ.

Đáng chú ý, 61,2% người nộp hồ sơ không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật. Nhóm có trình độ đại học trở lên chiếm 19,2%, cao đẳng chiếm 5,9%.

Việc người không có bằng cấp, chứng chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong số hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực thích ứng nghề nghiệp. Tuy nhiên, không thể từ đó kết luận tất cả những người này đều thiếu kỹ năng. Nhiều lao động có kinh nghiệm thực hành nhưng chưa được đánh giá, công nhận bằng chứng chỉ chính thức.

Bài toán chính sách vì thế không đơn giản là đưa người thất nghiệp trở lại trường học. Điều cần thiết là xác định họ đã có những kỹ năng gì, kỹ năng nào còn phù hợp và cần bổ sung phần nào để đáp ứng công việc mới.

Đối với lao động trung niên, yêu cầu này càng cấp thiết. Người đã làm việc nhiều năm thường có lợi thế về kỷ luật, kinh nghiệm và khả năng xử lý tình huống, nhưng có thể gặp trở ngại khi tiếp cận công nghệ mới hoặc tham gia khóa đào tạo kéo dài.

Nếu buộc phải chuyển sang một ngành hoàn toàn khác, họ còn đối mặt với chi phí học tập, thời gian thích nghi và nguy cơ phải bắt đầu lại ở mức lương thấp hơn.

Trong điều kiện đó, hỗ trợ thu nhập chỉ là bước đầu. Muốn tránh thất nghiệp tái diễn, người lao động cần được tiếp cận thông tin nghề nghiệp đáng tin cậy và những chương trình đào tạo thực sự có khả năng chuyển hóa thành việc làm.

Bảo hiểm thất nghiệp cần được đánh giá không chỉ bằng số người hưởng trợ cấp mà còn bằng khả năng đưa người lao động trở lại thị trường với kỹ năng phù hợp hơn. Nếu đào tạo nghề không xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng thực tế, người lao động có thể hoàn thành khóa học nhưng vẫn khó tìm việc. Cần theo dõi cả thu nhập và thời gian duy trì việc làm sau đào tạo.

Chuyên gia chính sách an sinh xã hội Nguyễn Hồng Duyên

Từ trợ cấp thất nghiệp đến đầu tư cho năng lực làm việc

Một trong những chức năng quan trọng của BHTN là giảm áp lực phải chấp nhận ngay công việc đầu tiên xuất hiện.

Khi mất nguồn lương, người lao động thường đứng trước lựa chọn khó khăn: dành thời gian tìm việc phù hợp hoặc nhanh chóng nhận một công việc bất kỳ để duy trì sinh hoạt. Nếu không có khoản dự phòng, họ dễ phải ưu tiên thu nhập trước mắt hơn triển vọng nghề nghiệp dài hạn.

Trợ cấp thất nghiệp giúp giảm bớt áp lực này, nhưng giá trị kinh tế của chính sách không nằm ở việc kéo dài thời gian thất nghiệp. Mục tiêu phải là tạo điều kiện để người lao động tìm được công việc phù hợp hơn trong thời gian hợp lý.

Trong kinh tế học lao động, hiệu quả kết nối việc làm không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tuyển dụng, mà còn ở mức độ phù hợp giữa năng lực người lao động với yêu cầu công việc, tiền lương và khả năng duy trì việc làm.

Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong chuyển đổi nghề nghiệp

Một người được giới thiệu vào vị trí có mức lương thấp hơn nhiều so với trước, không sử dụng được kinh nghiệm tích lũy hoặc phải nghỉ việc sau vài tháng khó có thể được xem là trường hợp chuyển đổi nghề nghiệp thành công.

Theo Bản tin Thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, hệ thống dịch vụ việc làm ghi nhận 576.471 lượt người được tư vấn, 41.472 người được giới thiệu việc làm và 6.831 người được hỗ trợ học nghề.

Các chỉ tiêu này phản ánh những hoạt động hỗ trợ khác nhau, không phải số người đã có việc làm ổn định. Đặc biệt, số người được hỗ trợ học nghề còn khá khiêm tốn nếu đặt cạnh quy mô người được giải quyết trợ cấp thất nghiệp, dù không thể lấy hai con số của cùng một quý để tính trực tiếp tỷ lệ tham gia đào tạo.

Khoảng cách ấy gợi mở một câu hỏi: liệu chính sách đào tạo nghề đã trở thành lựa chọn thực sự hấp dẫn đối với người thất nghiệp, hay phần lớn người lao động vẫn chỉ tiếp cận BHTN như một khoản hỗ trợ tài chính?

Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm 2025 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý mới cho hoạt động hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

Theo quy định, người lao động đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo dưới ba tháng được hỗ trợ học phí tối đa 4,5 triệu đồng/người/khóa. Với khóa đào tạo từ đủ ba tháng trở lên, mức hỗ trợ tối đa là 1,5 triệu đồng/người/tháng.

Người tham gia còn được hỗ trợ tiền ăn 50.000 đồng cho mỗi ngày thực học. Thời gian hỗ trợ đào tạo tối đa sáu tháng.

Việc bổ sung hỗ trợ tiền ăn có ý nghĩa thực tế bởi chi phí học nghề không chỉ nằm ở học phí. Với người thất nghiệp, mỗi ngày đến lớp còn phát sinh chi phí đi lại, sinh hoạt và thời gian không thể dành cho công việc tạo thu nhập khác.

Tuy nhiên, tăng mức hỗ trợ chưa đủ bảo đảm hiệu quả đào tạo. Một khóa học chỉ có giá trị khi nội dung đáp ứng yêu cầu tuyển dụng và người hoàn thành có khả năng sử dụng kỹ năng mới trong công việc.

Thay vì tổ chức đào tạo theo những nghề sẵn có của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cần chuyển sang thiết kế chương trình dựa trên nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp. Những khóa học ngắn về vận hành máy tự động, kiểm soát chất lượng, kỹ năng số hoặc bảo trì thiết bị có thể phù hợp với người đã có nền tảng sản xuất.

Sau nhiều năm làm công nhân, điều tôi lo nhất không chỉ là mất lương mà còn là không biết mình có đáp ứng được công việc mới hay không. Tôi muốn học thêm kỹ năng vận hành máy móc hiện đại, nhưng vẫn phải lo tiền nhà và sinh hoạt. Nếu vừa có hỗ trợ thu nhập, vừa được học nghề gắn với nơi tuyển dụng, tôi sẽ yên tâm hơn khi chuyển việc.

Nguyễn Văn Đạt - công nhân nhà máy Vĩnh Cát

Đối với lao động lớn tuổi, đào tạo bổ sung trong ngành nghề quen thuộc nhiều khi hiệu quả hơn đào tạo lại từ đầu. Việc công nhận kỹ năng đã tích lũy, kết hợp học lý thuyết với thực hành tại doanh nghiệp có thể rút ngắn thời gian chuyển đổi.

Doanh nghiệp cũng cần tham gia từ khâu xác định tiêu chuẩn kỹ năng, xây dựng chương trình đến tiếp nhận người học. Khi đó, đào tạo không còn là hoạt động tách rời tuyển dụng mà trở thành một phần của quá trình cung ứng nhân lực.

Điểm đáng chú ý khác của chính sách BHTN là cơ chế hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm trong những trường hợp đủ điều kiện. Theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, mức hỗ trợ tối đa là một triệu đồng/người/tháng, thời gian không quá sáu tháng.

Cơ chế này mở thêm hướng tiếp cận mang tính phòng ngừa: nâng cao kỹ năng khi người lao động còn đang làm việc, thay vì chỉ đào tạo sau khi họ đã mất việc.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là vấn đề đáng quan tâm khi chi phí tuyển dụng, đào tạo lại và gián đoạn sản xuất có thể lớn hơn chi phí nâng cấp kỹ năng cho lực lượng lao động hiện có.

Dù vậy, hiệu quả BHTN không nên dừng ở số hồ sơ được giải quyết, số người tham gia khóa học hay số lượt giới thiệu việc làm. Cần theo dõi tỷ lệ có việc làm sau đào tạo, thu nhập trước và sau chuyển đổi, thời gian duy trì công việc và mức độ phù hợp của kỹ năng được đào tạo.

Một thị trường lao động vận hành hiệu quả không phải nơi người thất nghiệp được đưa vào bất kỳ vị trí trống nào nhanh nhất, mà là nơi người lao động có thể chuyển sang công việc phù hợp với năng lực và nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.

BHTN phát huy đầy đủ vai trò khi giúp người mất việc vượt qua khó khăn trước mắt, đồng thời tạo cơ hội nâng cao giá trị sức lao động. Đích đến của chính sách không chỉ là chấm dứt một đợt thất nghiệp, mà còn giảm nguy cơ người lao động phải quay lại điểm xuất phát sau lần chuyển việc tiếp theo.

Tin bài khác
Thời hiệu khiếu nại lĩnh vực lao động có thể giảm một nửa

Thời hiệu khiếu nại lĩnh vực lao động có thể giảm một nửa

Bộ Nội vụ đề xuất rút thời hiệu khiếu nại lần đầu trong lĩnh vực lao động, an toàn, vệ sinh lao động và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ 180 ngày xuống còn 90 ngày, nhằm thống nhất với quy định của Luật Khiếu nại hiện hành.
Hà Nội tôn vinh 30 “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026

Hà Nội tôn vinh 30 “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026

30 doanh nghiệp được vinh danh “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026 không chỉ là những đơn vị thực hiện tốt chính sách lao động, mà còn là các mô hình tiêu biểu về xây dựng môi trường làm việc nhân văn, đối thoại hiệu quả và phát triển bền vững dựa trên nguồn nhân lực chất lượng.
Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi thành công ty cổ phần, người lao động không chỉ được tiếp tục hưởng các chế độ về bảo hiểm mà còn có cơ hội mua cổ phần với giá ưu đãi, mua thêm cổ phần theo thời gian cam kết làm việc và được hưởng một số quyền lợi tài chính khác.
Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

20 doanh nghiệp tham gia Sàn giao dịch việc làm tháng 10 tại Đồng Nai đang có nhu cầu tuyển gần 5.000 lao động, chủ yếu ở các vị trí sản xuất trực tiếp, kỹ thuật và lao động có tay nghề, trong bối cảnh đơn hàng cuối năm có xu hướng gia tăng.
Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Sinh viên mất nhiều năm học kiến thức, doanh nghiệp tiếp tục mất thêm thời gian và chi phí đào tạo khi tuyển người mới. Khoảng cách giữa giảng đường và công việc thực tế đang tạo ra một vòng quay lãng phí, đòi hỏi nhà trường, doanh nghiệp và sinh viên cùng thay đổi.
TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

Thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh đang cho thấy độ lệch đáng chú ý giữa nhu cầu tuyển dụng và nguồn cung nhân lực. Trong tháng 9/2026, doanh nghiệp cần hơn 26.500 lao động nhưng chỉ có 17.686 người tìm việc; 21/27 nhóm ngành ghi nhận tình trạng thiếu nguồn cung so với nhu cầu.
Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Những tháng cuối năm, nhu cầu tuyển dụng tại Hà Nội tiếp tục gia tăng ở nhiều lĩnh vực, từ xây dựng, sản xuất đến bán lẻ, dịch vụ và kinh doanh trên nền tảng số. Cùng với mở rộng cơ hội việc làm, nhiều doanh nghiệp đưa ra chính sách về thu nhập, bảo hiểm và phúc lợi để thu hút, giữ chân người lao động.
Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Hội nghị trao đổi kỹ thuật giữa Bộ Nội vụ Việt Nam và Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào tập trung chia sẻ kinh nghiệm quản lý lao động trong và ngoài nước, phát triển thị trường lao động, an toàn vệ sinh lao động và số hóa dữ liệu, qua đó cụ thể hóa các cam kết hợp tác giữa hai Bộ.
Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị hoàn thiện quy định về huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, bảo đảm người lao động, đặc biệt người học nghề, tập nghề và thử việc, có đủ kiến thức, kỹ năng trước khi bắt đầu công việc.
7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định 7 nhóm công việc không được phép đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc, trong đó có công việc mát-xa, săn bắt thú dữ và các công việc thường xuyên tiếp xúc với phóng xạ, hóa chất độc hại. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Mật độ dân cư cao, tập trung đông trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu cùng hệ thống doanh nghiệp và dịch vụ phát triển tạo lợi thế đặc biệt cho đô thị lõi Hà Nội trong kết nối cung - cầu lao động. Vấn đề đặt ra là làm thế nào biến lợi thế về nguồn nhân lực trẻ thành những cơ hội việc làm ổn định, phù hợp chuyên môn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp.
Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Gần 300 lao động Hà Tĩnh từng làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS và thực tập sinh tại Nhật Bản theo chương trình IM Japan đã tham gia hội chợ việc làm ngày 18/9. Năm doanh nghiệp mang đến 3.800 vị trí tuyển dụng ở nhiều lĩnh vực, tạo thêm lựa chọn việc làm cho lực lượng lao động có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài khi trở về địa phương.
Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Phiên giao dịch việc làm tại bốn xã của Hà Nội ngày 19/9 dự kiến tuyển 1.276 lao động, trong đó 321 vị trí có thu nhập từ 15 triệu đồng mỗi tháng trở lên.
Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Sáng 15/9, Công ty Cổ phần Vega City ký kết hợp tác với Trường Đại học Nha Trang về phát triển du lịch, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hợp tác hướng đến tăng cường quảng bá điểm đến, mở rộng cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các dự án du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí tại Nha Trang.
Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài đã giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập ngay tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%. Những con số này được công bố tại hội thảo quốc gia về chỉ tiêu phát triển bền vững 10.7.1, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của dữ liệu trong thúc đẩy di cư lao động an toàn, hợp pháp và có trật tự.