Thông tư số 94/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính đã quy định cụ thể các trường hợp người nộp thuế thuộc diện giám sát trọng điểm trong công tác quản lý thuế. Đây là một trong những nội dung đáng chú ý nhằm tăng hiệu quả quản lý rủi ro, phòng ngừa hành vi trốn thuế, gian lận thuế và nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật.
![]() |
| Cơ quan Thuế sẽ tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức liên quan và đại lý thuế để hỗ trợ người nộp thuế thực hiện đúng quy định. |
Theo Điều 9 của Thông tư, có 4 nhóm người nộp thuế sẽ được Cơ quan Thuế đưa vào diện giám sát trọng điểm.
Nhóm thứ nhất là những trường hợp thực hiện giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và có liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
Nhóm thứ hai gồm người nộp thuế hoặc người đại diện theo pháp luật bị khởi tố về các hành vi vi phạm liên quan đến thuế, hóa đơn hoặc chứng từ.
Nhóm thứ ba là người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro cao về thuế thuộc các chuyên đề trọng điểm hoặc qua quá trình thu thập, phân tích thông tin được cơ quan thuế xác định cần tăng cường giám sát.
Nhóm còn lại là người nộp thuế không tuân thủ pháp luật thuế hoặc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ việc giải trình, bổ sung thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế trong thời hạn quy định.
Theo Thông tư, Cơ quan Thuế các cấp sẽ theo dõi, giám sát và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ phù hợp đối với từng trường hợp. Cục Thuế có trách nhiệm hướng dẫn việc thu thập, phân tích thông tin, xác định đối tượng trọng điểm cũng như thời hạn và biện pháp giám sát theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh việc xác định đối tượng giám sát trọng điểm, Điều 10 Thông tư 94/2026/TT-BTC cũng quy định người nộp thuế được đánh giá theo 4 mức độ tuân thủ, gồm: tuân thủ tốt, tuân thủ trung bình, tuân thủ thấp và không tuân thủ.
Việc phân loại dựa trên 28 tiêu chí thuộc 11 nhóm, bao gồm tình trạng hoạt động của người nộp thuế, thông tin người đại diện theo pháp luật, việc kê khai và nộp hồ sơ thuế, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, sử dụng hóa đơn, tình trạng nợ thuế, mức độ vi phạm hành chính về thuế, chỉ số hoạt động, việc tự nguyện đăng ký tuân thủ, giao dịch liên kết, giao dịch đáng ngờ và các tiêu chí quản lý khác.
Đối với nhóm không tuân thủ, Cơ quan Thuế sẽ áp dụng các biện pháp quản lý theo quy định tại Điều 9, đồng thời triển khai các giải pháp nhằm nâng cao mức độ chấp hành pháp luật thuế. Với các nhóm còn lại, Cơ quan Thuế sẽ có các hình thức hỗ trợ phù hợp để cải thiện việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
Theo Điều 11 Thông tư, kết quả phân loại cũng là căn cứ để xây dựng các chính sách khuyến khích người nộp thuế chấp hành tốt. Những trường hợp được xếp loại tuân thủ tốt sẽ được xem xét tuyên dương, khen thưởng theo quy định và có thể được áp dụng chế độ ưu tiên trong quản lý thuế nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định tại Điều 48 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP.
Ngoài ra, Cơ quan Thuế sẽ tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức liên quan và đại lý thuế để hỗ trợ người nộp thuế thực hiện đúng quy định; đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và tiếp tục phân loại rủi ro để áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với từng nhóm đối tượng.