TP. Hồ Chí Minh có lợi thế về mạng lưới trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng khởi nghiệp, cùng nguồn lực đầu tư lớn cho khoa học, công nghệ. Năm 2026, thành phố bố trí hơn 12.700 tỷ đồng cho lĩnh vực này, tương đương 4,16% tổng chi ngân sách.
Tuy nhiên, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là khả năng thương mại hóa và chuyển giao kết quả nghiên cứu.
Theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh Lê Văn Thăng, một số quy định, thủ tục chưa theo kịp các mô hình mới như thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), đầu tư mạo hiểm, đặt hàng, mua sắm sản phẩm công nghệ và cơ chế chia sẻ rủi ro.
![]() |
| TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường |
Trong khi đó, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo luôn tiềm ẩn rủi ro. Nhiều công nghệ mới cần trải qua quá trình thử nghiệm, kiểm chứng và hoàn thiện trước khi có thể đưa vào sản xuất, kinh doanh. Nếu thiếu cơ chế phù hợp cho giai đoạn này, kết quả nghiên cứu khó vượt qua khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Bên cạnh cơ chế, sự liên kết giữa Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp chưa phải lúc nào cũng thông suốt. Một bộ phận cán bộ thực thi còn lúng túng khi áp dụng các cơ chế mới, trong khi doanh nghiệp chưa tham gia đầy đủ vào quá trình hình thành và phát triển các nhiệm vụ nghiên cứu.
Thành phố vì vậy xác định trọng tâm không chỉ là có bao nhiêu đề tài được triển khai hay nghiệm thu, mà là kết quả nghiên cứu có thể tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế.
Theo định hướng mới, hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ cần được thể hiện qua số công nghệ được chuyển giao, sản phẩm được thương mại hóa, doanh nghiệp được hình thành hoặc năng suất, chất lượng sản xuất được cải thiện.
Để làm được điều này, nhu cầu của thị trường cần được xác định ngay từ đầu, đồng thời có doanh nghiệp hoặc đơn vị đủ năng lực tiếp nhận kết quả nghiên cứu. Các nguồn lực hỗ trợ cũng cần được bố trí phù hợp cho quá trình thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và phát triển sản phẩm.
Trong chuỗi này, doanh nghiệp giữ vai trò then chốt khi có thể tham gia từ khâu xác định bài toán, nghiên cứu, thử nghiệm đến hoàn thiện sản phẩm. Sự tham gia sớm của doanh nghiệp giúp hoạt động nghiên cứu bám sát hơn nhu cầu thực tế, đồng thời nâng khả năng ứng dụng và thương mại hóa.
TP. Hồ Chí Minh cũng định hướng tiếp tục hoàn thiện chính sách nhằm cụ thể hóa các quy định về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghiệp công nghệ số; đồng thời củng cố hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ cộng đồng khởi nghiệp và tăng cường liên kết giữa các chủ thể.
Việc huy động nguồn lực xã hội, trong đó có vốn đầu tư mạo hiểm, được kỳ vọng góp phần bổ sung nguồn lực cho những công nghệ đang ở giai đoạn thử nghiệm và hoàn thiện, qua đó chia sẻ áp lực với ngân sách nhà nước.
Về lâu dài, thành phố hướng tới chuyển từ quản lý quá trình sang đánh giá kết quả và giá trị tạo ra. Khi nguồn lực được tập trung vào những bài toán thực tiễn và doanh nghiệp tham gia sâu hơn, kết quả nghiên cứu sẽ có thêm cơ hội trở thành công nghệ, sản phẩm và tạo đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng.
Đưa nghiên cứu ra thị trường vì vậy không chỉ là tìm “đầu ra” cho các đề tài, mà còn là xây dựng một chuỗi liên kết đủ mạnh từ nhu cầu thực tế, nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa, biến nguồn lực khoa học, công nghệ thành động lực phát triển kinh tế - xã hội của TP. Hồ Chí Minh.