![]() |
Nửa đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. GDP tăng 8,18%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,8%, riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4%. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng là sự thay đổi đáng chú ý trong cách doanh nghiệp tuyển dụng và sử dụng lao động.
Theo Cục Thống kê, sáu tháng đầu năm, cả nước có gần 111.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,5% so với cùng kỳ. Tổng vốn đăng ký đạt hơn 1,35 triệu tỷ đồng, tăng 64,8%. Trong khi đó, số lao động đăng ký tại các doanh nghiệp mới chỉ khoảng 515.300 người, giảm 12,8%.
Số lao động đăng ký không đồng nghĩa số người thực tế được tuyển dụng. Tuy nhiên, diễn biến trái chiều này cho thấy việc mở rộng hoạt động kinh doanh không nhất thiết kéo theo nhu cầu nhân sự tương ứng.
Doanh nghiệp ngày càng chú trọng năng suất, ứng dụng công nghệ và tổ chức bộ máy tinh gọn. Một dây chuyền sản xuất được tự động hóa có thể giảm nhu cầu lao động thủ công nhưng lại cần thêm kỹ thuật viên vận hành, bảo trì thiết bị và kiểm soát chất lượng.
Sự thay đổi này tạo ra nghịch lý: doanh nghiệp vẫn tuyển người, trong khi một bộ phận lao động khó tìm được công việc phù hợp.
Tại Bắc Ninh, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp điện tử, cơ khí và sản xuất công nghiệp, nhu cầu nhân lực tiếp tục ở mức cao.
Vào tháng 4/2026, Công ty Crystal Martin tại Khu công nghiệp Quang Châu có khoảng 10.000 lao động, thu nhập bình quân 13 triệu đồng/người/tháng. Doanh nghiệp dự kiến tuyển khoảng 6.000 công nhân trong hai quý đầu năm nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và bổ sung nhân sự.
Ông Vũ Văn Cường, Trưởng nhóm tuyển dụng của công ty, cho biết doanh nghiệp áp dụng chính sách thưởng từ 10,5 đến 12 triệu đồng đối với công nhân mới làm đủ ba tháng, đồng thời bảo đảm thu nhập không thấp hơn 11 triệu đồng/tháng trong giai đoạn đầu.
Để thu hút lao động, doanh nghiệp còn phối hợp với các trung tâm dịch vụ việc làm, mở rộng địa bàn tuyển dụng và đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận.
Trường hợp Crystal Martin cho thấy nhu cầu tuyển dụng lớn không đồng nghĩa doanh nghiệp dễ tìm người. Thu nhập, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc và khả năng giữ chân nhân sự đang trở thành những yếu tố cạnh tranh trực tiếp.
Ở chiều ngược lại, người lao động cũng có những suy tính riêng.
Tháng 7/2026, chị Nguyễn Thị Trang, 23 tuổi, quê Thanh Hóa, quyết định ra Hà Nội tìm việc sau khi nghỉ làm tại một công ty gần nhà. Công việc cũ thường xuyên phải tăng ca đến tối muộn, nhưng thu nhập khoảng 7 triệu đồng/tháng. Quãng đường đi làm 15 km khiến chi phí sinh hoạt và đi lại tăng thêm.
Chị Trang mong muốn tìm được công việc có thu nhập 13–15 triệu đồng/tháng để ổn định cuộc sống và hỗ trợ gia đình.
Câu chuyện này phản ánh một vấn đề đáng chú ý: không phải người lao động nào chuyển việc cũng vì thiếu cơ hội làm việc. Nhiều người chủ động tìm môi trường có thu nhập và điều kiện tốt hơn.
Trong khi doanh nghiệp cần tuyển đủ người để duy trì sản xuất, người lao động lại cân nhắc khả năng tích lũy, thời gian làm việc và tính ổn định lâu dài. Khoảng cách giữa hai phía khiến thị trường có thể đồng thời xuất hiện tình trạng thiếu nhân lực và khó tìm việc.
![]() |
Dữ liệu từ các địa phương cho thấy nhu cầu tuyển dụng nửa cuối năm 2026 có thể tiếp tục tập trung ở công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, cơ khí, logistics và một số ngành dịch vụ.
Trong quý I/2026, Trung tâm Dịch vụ việc làm Bắc Ninh ghi nhận nhu cầu tuyển gần 84.000 vị trí từ hơn 2.600 doanh nghiệp, tập trung vào sản xuất, điện tử, cơ khí và dịch vụ.
Tại phiên giao dịch việc làm trực tuyến kết nối tám tỉnh, thành phố ngày 9/7, có 205 doanh nghiệp tham gia với hơn 109.000 chỉ tiêu tuyển dụng. Trong đó, lao động phổ thông chiếm hơn 60.700 chỉ tiêu, công nhân kỹ thuật và trình độ trung cấp hơn 25.100 chỉ tiêu, nhóm cao đẳng, đại học trở lên hơn 23.400 chỉ tiêu.
Những con số này cho thấy lao động phổ thông vẫn có nhiều cơ hội. Tuy nhiên, nhu cầu nhân lực kỹ thuật cũng đáng kể, phản ánh xu hướng tuyển dụng theo yêu cầu công việc ngày càng cụ thể.
Ngành dệt may, da giày, chế biến gỗ và các ngành phụ thuộc lớn vào đơn hàng xuất khẩu cần theo dõi sát biến động thương mại quốc tế, chi phí sản xuất và nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường lớn, khả năng đơn hàng biến động, khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh thời gian làm việc, kế hoạch tuyển dụng hoặc quy mô sản xuất.
Sức ép còn thể hiện qua số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Sáu tháng đầu năm, cả nước có khoảng 85.900 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, gần 41.200 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể và gần 24.000 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể.
Không thể quy đổi trực tiếp các con số này thành số người mất việc. Tuy nhiên, chúng cho thấy một bộ phận doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, bất chấp tăng trưởng kinh tế chung tích cực.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, thách thức lớn là cân đối chi phí nhân công với khả năng duy trì đơn hàng. Cắt giảm lao động có thể giúp giảm áp lực tài chính trước mắt, nhưng cũng khiến doanh nghiệp mất nhân sự có kinh nghiệm và tốn thêm chi phí tuyển dụng khi sản xuất phục hồi. Vì vậy, đào tạo lại, bố trí công việc linh hoạt và nâng năng suất cần được ưu tiên trước khi thu hẹp nhân sự.
Đối với người lao động, việc lựa chọn nghề nghiệp cũng cần thay đổi. Mức lương khởi điểm cao chưa chắc bảo đảm công việc ổn định nếu phụ thuộc quá nhiều vào tăng ca. Ngược lại, vị trí có cơ hội đào tạo, nâng bậc kỹ năng và phát triển nghề nghiệp có thể mang lại lợi ích bền vững hơn.
Cơ quan quản lý cần tăng cường dự báo nhu cầu nhân lực theo từng ngành, địa phương và trình độ kỹ năng. Dữ liệu tuyển dụng phải được kết nối với hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và cơ sở đào tạo để hỗ trợ người lao động chuyển việc kịp thời.
Khi tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào năng suất và công nghệ, lợi thế của người lao động không còn chỉ là kinh nghiệm hay sức lao động, mà là khả năng học nghề, chuyển đổi kỹ năng và thích nghi với công việc mới.