Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vừa ký ban hành Nghị quyết số 112 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026, thay thế và bổ sung nhiều nội dung quan trọng nhằm thống nhất tiêu chí đánh giá, phân loại các đơn vị hành chính phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới.
Theo Nghị quyết, đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh ở khu vực nông thôn, quy mô dân số được quy định cụ thể theo đặc thù địa lý. Theo đó, tỉnh miền núi phải có quy mô dân số từ 900.000 người trở lên; tỉnh không thuộc miền núi từ 1,4 triệu người trở lên. Diện tích tự nhiên của tỉnh miền núi từ 8.000 km² trở lên, các tỉnh khác từ 5.000 km² trở lên.
Bên cạnh các tiêu chí về dân số và diện tích, đơn vị hành chính nông thôn cấp tỉnh phải có định hướng phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm của cả nước và có ít nhất một đô thị đạt tiêu chuẩn đô thị loại II.
![]() |
| Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vừa ký ban hành Nghị quyết số 112 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính |
Đối với đơn vị hành chính đô thị, Nghị quyết quy định thành phố trực thuộc Trung ương hoặc thành phố có tính chất đặc thù phải đạt quy mô dân số từ 2,5 triệu người trở lên, diện tích tự nhiên từ 2.500 km² trở lên. Tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã phải đạt từ 30% trở lên và tỷ lệ đô thị hóa từ 45% trở lên.
Về vị trí, chức năng, đô thị phải được xác định trong quy hoạch hoặc định hướng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia hoặc cấp vùng về các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học – công nghệ; đồng thời là đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của vùng hoặc cả nước. Đô thị này phải được công nhận là đô thị loại I.
Ngoài ra, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội cũng là tiêu chí bắt buộc. Theo đó, địa phương phải thuộc nhóm cân đối ngân sách, không nhận bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ trong GRDP đạt từ 80% trở lên. Thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức bình quân cả nước trong 3 năm gần nhất; tốc độ tăng trưởng GRDP trong 3 năm liền kề đạt hoặc vượt tốc độ tăng GDP cả nước; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) thấp hơn mức bình quân chung của cả nước.
Nghị quyết cũng quy định rõ tiêu chuẩn của đơn vị hành chính phường. Theo đó, phường phải có quy mô dân số từ 21.000 người trở lên, diện tích tự nhiên từ 5,5 km² trở lên.
Về vị trí, chức năng, phường phải được xác định trong quy hoạch hoặc định hướng phát triển là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh hoặc cấp tiểu vùng trong tỉnh, thành phố; có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Các tiêu chí kinh tế – xã hội đối với phường bao gồm: tỷ lệ dân số đô thị đạt từ 50% trở lên; tỷ lệ tổng thu ngân sách địa phương so với tổng chi ngân sách trên địa bàn đạt từ 100% trở lên; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ trong GRDP đạt từ 70% trở lên. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp phải đạt từ 70% trở lên; thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức bình quân của tỉnh, thành phố trực thuộc trong 3 năm gần nhất; tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn mức bình quân của địa phương.
Đối với đơn vị hành chính đặc khu, Nghị quyết nêu rõ việc áp dụng tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Trường hợp đặc khu đã được công nhận là đô thị theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị thì được xác định là đơn vị hành chính đô thị.
Việc ban hành Nghị quyết số 112 được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng trong khung pháp lý về tổ chức đơn vị hành chính, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo nền tảng cho quá trình sắp xếp, phát triển các đơn vị hành chính theo hướng bền vững, phù hợp với yêu cầu phát triển của từng vùng, từng địa phương trong giai đoạn mới.