| Bài liên quan |
| Những “ông lớn” đứng sau Cảng Hàng không quốc tế Phú Quốc là ai? |
| Quy hoạch Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn 2050 |
Đề xuất bãi bỏ 6 thủ tục hành chính
Theo Bộ Xây dựng, dự thảo Nghị định cơ bản kế thừa các quy định đã được triển khai ổn định trong Nghị định số 05/2021/NĐ-CP và Nghị định số 92/2019/NĐ-CP. Đồng thời, cơ quan soạn thảo tiến hành rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định còn vướng mắc trong quá trình thực thi, đặc biệt liên quan đến đầu tư xây dựng cảng hàng không, công trình tại cảng hàng không và các quy định đối với bãi cất, hạ cánh nhằm bảo đảm phù hợp với Luật Hàng không dân dụng Việt Nam.
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là việc đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo đó, dự thảo quy định rõ thời hạn nộp phí thẩm định cũng như thời gian để tổ chức, cá nhân hoàn thiện hồ sơ. Đồng thời, thủ tục trình thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết cảng hàng không được rút gọn bằng cách gộp hai bước trình thẩm định và trình phê duyệt thành một bước duy nhất.
![]() |
| Đề xuất sửa quy định về cảng hàng không theo hướng giảm thủ tục hành chính. |
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất bãi bỏ 6 thủ tục hành chính, gồm: thủ tục mở, đóng cảng hàng không; cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với phương tiện chuyên ngành; phê duyệt bản vẽ tổng mặt bằng; và thủ tục đóng tạm thời cảng hàng không, sân bay trong các trường hợp thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, sự cố, tai nạn hàng không hoặc các tình huống bất thường đe dọa an toàn, an ninh hàng không.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng điều chỉnh và bổ sung một số quy định liên quan đến quy hoạch chi tiết cảng hàng không. Cụ thể, quy định rõ điều kiện đối với chuyên gia tư vấn chủ trì và các chuyên gia tham gia lập quy hoạch; đồng thời bổ sung các nội dung cần có trong đề cương quy hoạch như yêu cầu về tổ chức vùng trời, phương thức bay, kết nối giao thông, bảo đảm quốc phòng – an ninh và công tác cắm mốc giới quy hoạch.
Theo dự thảo, các yêu cầu liên quan đến bản vẽ tổng mặt bằng sẽ được tích hợp vào nội dung quy hoạch chi tiết cảng hàng không thay vì quy định riêng một thủ tục phê duyệt như trước đây. Quy hoạch chi tiết phải xác định phương án kết nối giao thông, hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước và thông tin liên lạc; trong đó yêu cầu bảo đảm có hai nguồn điện lưới độc lập cấp cho cảng hàng không. Đồng thời, quy hoạch cũng phải làm rõ nhu cầu xây dựng hệ thống công trình ngầm và các chỉ tiêu sử dụng đất cho từng công trình dịch vụ tại sân bay.
Dự thảo cũng điều chỉnh quy định về điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết cảng hàng không theo hướng áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn. Đối với cảng hàng không chuyên dùng, dự thảo đề xuất không phải lập quy hoạch chi tiết. Thay vào đó, vị trí, phạm vi, ranh giới và quy mô sẽ được xác định trong quy hoạch tỉnh và quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và ý kiến thống nhất của cơ quan quản lý nhà nước về hàng không dân dụng.
Làm rõ quy định về cấp phép và khai thác dịch vụ hàng không
Đối với hoạt động đầu tư xây dựng tại cảng hàng không, dự thảo quy định cụ thể việc đầu tư xây dựng tại cảng hàng không mới và cảng hàng không hiện hữu, cũng như việc xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước và các công trình bảo đảm hoạt động bay. Các quy định này áp dụng cho cả cảng hàng không chuyên dùng.
Về giấy phép kinh doanh cảng hàng không, dự thảo làm rõ trình tự, thủ tục và thành phần hồ sơ cấp phép, đồng thời điều chỉnh các trường hợp hủy bỏ giấy phép. Theo đó, bỏ quy định hủy bỏ giấy phép đối với trường hợp doanh nghiệp không bắt đầu khai thác cảng hàng không trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp phép.
Thay vào đó, dự thảo bổ sung các trường hợp bị hủy giấy phép như: doanh nghiệp không duy trì mức vốn tối thiểu trong 3 năm liên tiếp; không được cấp giấy chứng nhận cảng hàng không trong vòng 12 tháng kể từ khi được cấp giấy phép; hoặc không duy trì đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Đối với giấy phép kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, dự thảo cũng quy định rõ trình tự, thủ tục cấp phép và điều chỉnh một số trường hợp hủy bỏ giấy phép. Cụ thể, bỏ quy định hủy giấy phép đối với trường hợp doanh nghiệp không duy trì mức vốn tối thiểu liên tục trong quá trình hoạt động hoặc không bắt đầu cung cấp dịch vụ trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp phép.
Ngược lại, dự thảo bổ sung các trường hợp hủy giấy phép như không duy trì vốn chủ sở hữu tối thiểu trong 3 năm liên tiếp hoặc bị Cục Hàng không Việt Nam khuyến cáo lần thứ ba trong vòng 12 tháng nhưng không khắc phục.
Ngoài ra, dự thảo cũng làm rõ quy định liên quan đến việc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không đơn phương ngừng cung cấp dịch vụ do đối tác vi phạm hợp đồng. Theo đó, nếu đối tác là hãng hàng không, hãng phải báo cáo Cục Hàng không Việt Nam và Cảng vụ hàng không tối thiểu 5 ngày làm việc trước thời điểm dự kiến dừng cung cấp dịch vụ, kèm theo phương án khắc phục để bảo đảm hoạt động khai thác không bị gián đoạn.
Trường hợp phương án khắc phục không bảo đảm, hãng hàng không phải thông báo cho hành khách và thực hiện các chính sách bồi thường theo quy định.
Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung quy định về phương thức thu giá dịch vụ phục vụ hành khách tại cảng hàng không, đồng thời điều chỉnh quy định liên quan đến việc đưa công trình vào khai thác hoặc dừng khai thác tại cảng hàng không.
Theo dự thảo, cảng hàng không chỉ được đưa vào khai thác khi giấy chứng nhận cảng hàng không có hiệu lực. Trong trường hợp xảy ra thảm họa, sự cố, tai nạn hàng không hoặc các tình huống bất thường đe dọa an toàn, an ninh hàng không, việc dừng khai thác cảng hàng không hoặc các công trình liên quan sẽ không phải thực hiện thủ tục hành chính.
Thủ tục đưa công trình vào khai thác hoặc dừng khai thác chỉ áp dụng đối với các trường hợp nâng cấp, cải tạo, mở rộng hoặc sửa chữa kết cấu hạ tầng hàng không, và được thực hiện đồng thời với thủ tục chấp thuận phương án bảo đảm an ninh, an toàn trong quá trình thi công.