Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 261/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Chiến lược xác định mục tiêu phát triển ngành thép theo hướng tập trung vào các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế; đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm, từng bước chuyển sang các dòng thép có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tận dụng hiệu quả nguồn nhiên liệu, đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh.
![]() |
| Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép đến năm 2030, tầm nhìn 2050 |
Theo Chiến lược, đến năm 2030, ngành thép phấn đấu đáp ứng khoảng 80–85% nhu cầu sử dụng trong nước, từng bước giảm phụ thuộc vào thép nhập khẩu, nhất là các sản phẩm thép hợp kim, thép dụng cụ và thép đặc biệt phục vụ ngành chế tạo.
Cụ thể, sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân 7–8%/năm, đạt khoảng 25–26 triệu tấn/năm; sản lượng thép thành phẩm tăng 5,5–6,5%/năm, đạt 32–33 triệu tấn/năm. Mức tiêu thụ thép bình quân đạt 270–280 kg/người/năm.
Cơ cấu sản phẩm được định hướng tăng dần tỷ trọng các dòng thép có giá trị gia tăng cao như thép hợp kim, thép không gỉ, thép chất lượng cao phục vụ ngành chế tạo, giao thông vận tải (ô tô, đóng tàu, đường sắt) và năng lượng.
Đến năm 2035, sản xuất thép thô dự kiến tăng trưởng 6–7%/năm, đạt 33–36 triệu tấn/năm; thép thành phẩm đạt 40–43 triệu tấn/năm; tiêu thụ bình quân 340–360 kg/người/năm. Sản phẩm ngành thép cơ bản đáp ứng 85–90% nhu cầu trong nước, đồng thời tăng tỷ trọng xuất khẩu.
Tầm nhìn đến năm 2050, ngành thép hướng tới quy mô sản xuất lớn, hiện đại, với sản lượng thép thành phẩm khoảng 75–80 triệu tấn/năm, sản xuất thép thô 65–70 triệu tấn/năm, mức tiêu thụ bình quân 570–650 kg/người/năm. Ngành thép Việt Nam phấn đấu đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chiến lược nhấn mạnh phát triển các sản phẩm thép mà trong nước có lợi thế và nhu cầu lớn nhưng hiện chưa sản xuất được; ưu tiên đầu tư các dự án thép công nghệ tiên tiến, hiện đại, phát triển thép xanh, thép hợp kim, thép phục vụ ngành chế tạo, nâng cao hàm lượng khoa học – công nghệ nhằm tăng năng suất và chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Việc phân bố không gian sản xuất ngành thép được định hướng hợp lý theo lợi thế địa lý, tập trung các dự án quy mô lớn tại các địa phương có cảng nước sâu, hạ tầng đồng bộ, nguồn năng lượng tái tạo, qua đó tối ưu chi phí logistics và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Chiến lược cũng đặt trọng tâm tăng cường liên kết chuỗi giá trị, từ nghiên cứu, cung ứng nguyên liệu đến sản xuất và tiêu thụ, hình thành các cụm công nghiệp thép hiện đại, bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Chiến lược đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp về cơ chế chính sách, thị trường tiêu thụ, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường.
Trong đó, tiếp tục đầu tư nâng cấp công nghệ, thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất các nhóm sản phẩm thép phục vụ xây dựng, thép hợp kim, thép chế tạo, thép hình, tôn mạ, ống thép, thép cán nóng, vừa đáp ứng nhu cầu trong nước vừa hướng tới xuất khẩu.
Đồng thời, nghiên cứu và phát triển công nghệ trong nước để sản xuất các dòng thép chất lượng cao như thép tấm cường độ cao, thép dự ứng lực, thép không gỉ chống ăn mòn cho công trình biển đảo, thép siêu nhẹ cho ngành giao thông vận tải, thép phục vụ đường sắt cao tốc, năng lượng tái tạo, đóng tàu, quốc phòng – an ninh.
Chiến lược phát triển ngành thép được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho ngành công nghiệp vật liệu cơ bản phát triển bền vững, đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn tới.