Thứ bảy 12/09/2026 10:04
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

Khó khăn và thách thức trong quá trình công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay

08/06/2022 13:55
Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới. Quá trình này đã góp phần

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa.

Các quốc gia công nghiệp phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa mới đều thành công trên con đường công nghiệp hóa nhờ biết xác định kịp thời mô hình công nghiệp hóa phù hợp với bối cảnh thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước. Chỉ tính từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có 2 mô hình công nghiệp hóa rất thành công. Mô hình thay thế nhập khẩu đã biến các quốc gia Braxin, Mêhicô, Áchentina và Chilê thành các “con hổ” Mỹ La tinh. Sau đó, mô hình hướng xuất khẩu đã đem lại sự phát triển thần kỳ cho các “con hổ” Đông Á: Xinhgapo, Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo phương châm hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu ở những lĩnh vực, mặt hàng có lợi thế.

Quá trình này đã góp phần đem lại cho đất nước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tuy nhiên, như Đại hội XIII kiểm điểm: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt được mục tiêu đề ra”.

Với tính cách thị trường thương mại, thế giới ngày nay đã bị các Hiệp định thương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liên hoàn, thống nhất. Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trường quốc nội và thị trường quốc tế. Trong bối cảnh mới như vậy, các mô hình công nghiệp hóa nêu trên hiển nhiên là không còn chỗ đứng. Việt Nam cũng như các quốc gia khác, rất cần xác định mới mô hình công nghiệp hóa, vừa thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ tư…, vừa phù hợp với điều kiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội XIII nêu rõ mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới”.

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xác định là những ưu tiên phát triển bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp và vật liệu mới…

Có thể khái quát, với tầm nhìn chiến lược, bám sát nền sản xuất công nghiệp và kinh tế công nghiệp của thế giới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đã kế thừa và bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đây là cơ sở quan trọng hàng đầu để Chính phủ và các cấp, các ngành xây dựng những chính sách cụ thể, kịp thời và hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu đất nước có nền công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2025 và có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030.

Một số khó khăn và thách thức đặt ra với quá trình CNH ở nước ta hiện nay

Lý luận và Mô hình kinh tế: Mô hình CNH, HĐH của Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện; chưa được cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của một nước công nghiệp. Thực hiện CNH, HĐH chưa bằng thể chế của nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật khách quan của cơ chế thị trường.

Chiến lược CNH, HĐH trong thời gian dài chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm cần thiết cho từng giai đoạn phấn đấu. Nhiều cơ chế, chính sách còn thiếu, hoặc thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

CNH, HĐH theo yêu cầu “rút ngắn”, cũng chưa làm rõ được những nội dung cơ bản, và động lực để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn.

Xu hướng kinh tế thế giới: Công nghiệp thế giới có xu hướng tăng chậm hơn, trong khi áp lực cạnh tranh giữa các nước công nghiệp mới và đang phát triển càng “gay gắt”. Do khoa học và công nghệ phát triển nhanh, nhiều nền kinh tế đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng từ nguy cơ chuyển sang thời kỳ hậu công nghiệp sớm hơn so với dự kiến.

Phát triển kinh tế và ngành công nghiệp: Tăng trưởng kinh tế nước ta vẫn dựa nhiều vào đầu tư vốn và tăng trưởng tín dụng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên khoa học công nghệ và tri thức. Do đó, nền kinh tế nước ta phát triển thiếu bền vững, chất lượng tăng trưởng không cao.

Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế, vẫn còn khoảng cách lớn để đạt đến mức là một nước có nền kinh tế phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đang đặt ra các thách thức đối với nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH.

Tăng trưởng của ngành công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP cả nước chưa cao, và tăng/giảm không ổn định trong các giai đoạn vừa qua. Đến năm 2018, ngành công nghiệp đạt 28,4%, thấp hơn năm 2010 (đạt 31,7%).

Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp thực hiện còn chậm, chưa tạo ra những thay đổi đáng kể về cơ cấu công nghiệp. Ngành Khai khoáng, dù tỷ trọng VA của ngành có xu hướng giảm dần (từ 36,5% xuống 25,9% trong giai đoạn 2011-2018) nhưng vẫn chiếm cao trong cơ cấu VA toàn ngành công nghiệp.

Chỉ số GDP/người: Từ năm 2000 đến nay, GDP/người của nước ta đã tăng khá nhanh, đến năm 2018 đạt 2.590 USD/người, gấp hơn 6,6 lần so với năm 2000. Tính theo sức mua tương đương thì GDP/người của Việt Nam hiện đạt khoảng 7.435 USD/người.

Từ số liệu các năm cho thấy, mặc dù GDP/người của Việt Nam đã có những bước cải thiện so với mức bình quân của thế giới (từ 26,0% năm 2000, lên 34,2% năm 2010 và 41,3% năm 2018), tuy nhiên trong gần 20 năm phát triển kinh tế đã qua cho thấy, khoảng cách chệch lệch của Việt Nam với thế giới vẫn còn ở mức khá cao. So sánh tương đối với một số quốc gia trong “Các nước mới công nghiệp” (NICs) thì Việt Nam hiện tương đương với Ấn Độ (đạt 7.874 USD); thấp hơn Philipine (8.936 USD); bằng 1/2 của Indonesia, Nam Phi, Braxin và từ 1/3-1/4 của Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia.

Có thể nói hiện nay, chỉ số GDP/người là một vấn đề lớn của nền kinh tế nước ta, trong việc tính toán và xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới.

Năng suất lao động: Năng suất lao động có mối liên hệ trực tiếp với GDP/người và đang thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam hiện có diện tích thuộc nhóm trung bình của thế giới và đặc biệt đang có nhiều thuận lợi về dân số (quy mô, độ tuổi lao động), tuy nhiên năng suất lao động của Việt Nam nói chung, và ngành công nghiệp nói riêng vẫn đang ở mức độ thấp, khi so với các nước phát triển. Qua đó cho thấy, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới, để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước trong khu vực, và trên thế giới.

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Năng lực cạnh tranh toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam chỉ ở mức trung bình và có vị trí tăng/giảm không ổn định trong thời gian vừa qua. Đến năm 2019, Việt Nam đứng vị trí 67/141 nền kinh tế, tăng thêm 10 bậc so với năm 2018 và vẫn còn một khoảng cách khá xa, so với các nước đứng đầu trong khu vực ASEAN.

Dân số và nguồn nhân lực: Việt Nam là quốc gia có tốc độ già hóa dân số khá nhanh so với thế giới. Nước ta đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự báo đến năm 2030, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ tăng lên 17% và đạt đến 25% vào năm 2050. Quá trình già hóa dân số nhanh sẽ khiến lực lượng lao động bị thu hẹp, ảnh hưởng đến năng suất lao động của toàn nền kinh tế, và tác động lâu dài đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Đây là một thách thức lớn, đến phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai gần.

Chất lượng nguồn nhân lực thiếu hụt lao động có tay nghề cao; cơ cấu lao động qua đào tạo bất hợp lý và lạc hậu (Tỷ lệ tương quan giữa số lượng lao động có trình độ đại học trở lên/caođẳng/trungcấp/sơ cấp nghề năm 2018 là: 1/0,37/0,54/0,37). Có thể đánh giá, việc hạn chế về nguồn nhân lực đang được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình phát triển kinh tế và CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.

Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế và thúc đẩy quá trình CNH; huy động nguồn lực của xã hội vào các hoạt động khoa học và công nghệ còn yếu; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo, với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý.

Xuất khẩu hàng hóa: Chính sách phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP nhưng chưa vững chắc. Độ mở của nền kinh tế qua kênh xuất khẩu khá lớn nhưng quy mô xuất khẩu còn nhỏ; chỉ số xuất khẩu sản xuất bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình trên thế giới.

Xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hiện chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu), dẫn đến nền kinh tế và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng, gặp nhiều khó khăn trong việc chủ động phát triển các ngành công nghiệp trong dài hạn, do doanh nghiệp FDI, có thể sẽ chuyển hoặc đầu tư sang các quốc gia khác sản xuất, nếu các điều kiện cho đầu tư và sản xuất, tiếp cận thị trường xuất khẩu,... gặp thuận lợi hơn.

Đầu tư từ nước ngoài: Hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đạt thấp. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp và có tỷ lệ nội địa hóa thấp; chưa tạo được sự lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước như kỳ vọng. Thu hút đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên từ các tập đoàn lớn đa quốc gia còn hạn chế; hơn một nửa dự án FDI có quy mô dưới 1 triệu USD.

Quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng: Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ khá nhanh, nhưng thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; trình độ, năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu.

Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế xã hội. Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng với sự đổi thay về tư duy quản lý đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng CNH và HĐH.

Theo Cổng thông tin Bộ Công thương

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh đối thoại, tháo gỡ loạt vướng mắc hải quan cho doanh nghiệp

TP. Hồ Chí Minh đối thoại, tháo gỡ loạt vướng mắc hải quan cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp kiến nghị tháo gỡ nhiều vướng mắc về thủ tục hải quan, thuế, C/O và kiểm tra chuyên ngành, nhằm rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Xuất khẩu 8 tháng đạt gần 375 tỷ USD, dư địa tăng trưởng còn lớn

Xuất khẩu 8 tháng đạt gần 375 tỷ USD, dư địa tăng trưởng còn lớn

Xuất khẩu 8 tháng năm 2026 đạt gần 375 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ, tạo thêm dư địa để mở rộng thị trường và duy trì đà tăng trưởng những tháng cuối năm.
TP. Hồ Chí Minh muốn chuẩn hóa nhân lực khách sạn theo chuẩn ASEAN

TP. Hồ Chí Minh muốn chuẩn hóa nhân lực khách sạn theo chuẩn ASEAN

Theo Quyết định 147/QĐ-TTg, đến năm 2030, ngành du lịch Việt Nam cần tạo khoảng 8,5 triệu việc làm. Riêng TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đón 10-11 triệu lượt khách quốc tế và lọt nhóm thành phố du lịch hàng đầu Đông Nam Á.
Đặt xe limousine: Lựa chọn di chuyển tiện nghi cho những hành trình đường dài

Đặt xe limousine: Lựa chọn di chuyển tiện nghi cho những hành trình đường dài

Không chỉ đáp ứng nhu cầu di chuyển, xe limousine còn mang đến không gian rộng rãi, riêng tư và nhiều tiện ích cho những hành trình liên tỉnh. Với cách đặt vé trực tuyến thuận tiện, hành khách có thể dễ dàng tìm chuyến phù hợp và chủ động hơn trong kế hoạch di chuyển.
Starbucks chi 1 tỷ USD kéo khách trở lại quán

Starbucks chi 1 tỷ USD kéo khách trở lại quán

Starbucks đang đầu tư 1 tỷ USD để tái thiết kế 9.000 cửa hàng thành những không gian sinh hoạt cộng đồng ấm áp, qua đó kéo khách quay lại, gia tăng thời gian lưu lại và thúc đẩy doanh thu.
SME Việt Nam cần gì để đi đường dài trên thị trường xuất khẩu?

SME Việt Nam cần gì để đi đường dài trên thị trường xuất khẩu?

770,14 tỷ USD là quy mô xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam đạt được chỉ sau 8 tháng năm 2026. Cánh cửa thị trường quốc tế đang mở rộng, nhưng phía sau những con số kỷ lục là bài toán không nhỏ với doanh nghiệp nhỏ và vừa: vốn, công nghệ, tiêu chuẩn, quản trị và khả năng xây dựng một năng lực xuất khẩu đủ bền để đi đường dài.
Khánh Hòa mở đường đón khách Nhật qua các chuyến bay charter

Khánh Hòa mở đường đón khách Nhật qua các chuyến bay charter

Khánh Hòa đang đẩy mạnh xúc tiến, khảo sát và kết nối doanh nghiệp nhằm mở rộng thị trường khách du lịch Nhật Bản. Đáng chú ý, địa phương hướng tới thử nghiệm chuyến bay thuê chuyến (charter) từ sân bay quốc tế Narita đến sân bay quốc tế Cam Ranh vào tháng 4/2027.
Gần 9 tỷ USD FDI và bài toán an toàn PCCC tại Lâm Đồng

Gần 9 tỷ USD FDI và bài toán an toàn PCCC tại Lâm Đồng

Một sự cố cháy tại nhà máy có thể kéo theo gián đoạn sản xuất, giao hàng và cả chuỗi cung ứng. Vì vậy, bảo đảm an toàn PCCC đang được Lâm Đồng đặt trong bài toán xây dựng môi trường đầu tư ổn định, lâu dài.
Cà phê Robusta Việt Nam: Từ lợi thế sản lượng đến nâng giá trị

Cà phê Robusta Việt Nam: Từ lợi thế sản lượng đến nâng giá trị

Cà phê Robusta Việt Nam đang có nhiều dư địa nâng giá trị nhờ cải thiện chất lượng, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và đổi mới phương thức thu mua.
Doanh nghiệp Việt đứng trước cánh cửa mới vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Doanh nghiệp Việt đứng trước cánh cửa mới vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Xuất khẩu 8 tháng đạt gần 375 tỷ USD, trong khi hàng trăm nhà mua hàng quốc tế đang tìm nguồn cung tại Việt Nam. Cơ hội mở rộng, nhưng cánh cửa vào chuỗi cung ứng toàn cầu chỉ dành cho doanh nghiệp đủ năng lực đáp ứng.
Doanh nghiệp Thành phố mang tên Bác bước vào "cuộc đua trên đấu trường dư địa mới"

Doanh nghiệp Thành phố mang tên Bác bước vào "cuộc đua trên đấu trường dư địa mới"

Từ một trung tâm đô thị - dịch vụ lớn, TP. Hồ Chí Minh đang hình thành cấu trúc kinh tế rộng hơn với công nghiệp, cảng biển, logistics, công nghệ cao và không gian biển. Sự thay đổi này tạo thêm cơ hội nhưng cũng kéo doanh nghiệp vào một cuộc cạnh tranh khác - "cuộc đua trên đấu trường dư địa mới".
Đồng Nai chuyển hướng đón dòng vốn FDI chất lượng cao

Đồng Nai chuyển hướng đón dòng vốn FDI chất lượng cao

Gần 1,9 tỷ USD vốn FDI được thu hút trong 8 tháng năm 2026 đang tạo thêm động lực cho Đồng Nai củng cố vị thế một trong những trung tâm công nghiệp lớn của cả nước. Thay vì chạy theo số lượng, địa phương đang chuyển mạnh sang lựa chọn những dự án có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị cao, tạo giá trị gia tăng và có khả năng kết nối sâu hơn với doanh nghiệp trong nước.
Cú Hole-in-One 1 tỷ đồng, BCA Group - BNI Việt Nam tạo dấu ấn tại VINASME Legacy Cup

Cú Hole-in-One 1 tỷ đồng, BCA Group - BNI Việt Nam tạo dấu ấn tại VINASME Legacy Cup

Một cú Hole-in-One trị giá 1 tỷ đồng và hàng loạt cơ hội kết nối doanh nhân là dấu ấn nổi bật của VINASME Legacy Cup 2026, với sự đồng hành của BCA Group – BNI Việt Nam.
Muốn ở lại thị trường Mỹ, doanh nghiệp Việt phải giữ kỷ luật tuân thủ

Muốn ở lại thị trường Mỹ, doanh nghiệp Việt phải giữ kỷ luật tuân thủ

Một chứng nhận có thể mất 9 tháng mới hoàn tất, trong khi một sai phạm sau khi hàng vào Mỹ có thể khiến doanh nghiệp mất cơ hội quay lại, thậm chí là bị chặn đứng mọi cơ . Với thị trường này, tuân thủ phải được chuẩn bị trước và duy trì trong suốt quá trình kinh doanh.
Sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng gần 200%

Sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng gần 200%

Xuất khẩu sầu riêng và nhiều loại rau quả Việt Nam sang Hàn Quốc tăng mạnh, mở thêm dư địa cho nông sản Việt tại thị trường này.