Thứ bảy 26/09/2026 10:51
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

Khó khăn và thách thức trong quá trình công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay

08/06/2022 13:55
Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới. Quá trình này đã góp phần

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa.

Các quốc gia công nghiệp phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa mới đều thành công trên con đường công nghiệp hóa nhờ biết xác định kịp thời mô hình công nghiệp hóa phù hợp với bối cảnh thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước. Chỉ tính từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có 2 mô hình công nghiệp hóa rất thành công. Mô hình thay thế nhập khẩu đã biến các quốc gia Braxin, Mêhicô, Áchentina và Chilê thành các “con hổ” Mỹ La tinh. Sau đó, mô hình hướng xuất khẩu đã đem lại sự phát triển thần kỳ cho các “con hổ” Đông Á: Xinhgapo, Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo phương châm hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu ở những lĩnh vực, mặt hàng có lợi thế.

Quá trình này đã góp phần đem lại cho đất nước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tuy nhiên, như Đại hội XIII kiểm điểm: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt được mục tiêu đề ra”.

Với tính cách thị trường thương mại, thế giới ngày nay đã bị các Hiệp định thương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liên hoàn, thống nhất. Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trường quốc nội và thị trường quốc tế. Trong bối cảnh mới như vậy, các mô hình công nghiệp hóa nêu trên hiển nhiên là không còn chỗ đứng. Việt Nam cũng như các quốc gia khác, rất cần xác định mới mô hình công nghiệp hóa, vừa thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ tư…, vừa phù hợp với điều kiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội XIII nêu rõ mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới”.

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xác định là những ưu tiên phát triển bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp và vật liệu mới…

Có thể khái quát, với tầm nhìn chiến lược, bám sát nền sản xuất công nghiệp và kinh tế công nghiệp của thế giới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đã kế thừa và bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đây là cơ sở quan trọng hàng đầu để Chính phủ và các cấp, các ngành xây dựng những chính sách cụ thể, kịp thời và hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu đất nước có nền công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2025 và có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030.

Một số khó khăn và thách thức đặt ra với quá trình CNH ở nước ta hiện nay

Lý luận và Mô hình kinh tế: Mô hình CNH, HĐH của Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện; chưa được cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của một nước công nghiệp. Thực hiện CNH, HĐH chưa bằng thể chế của nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật khách quan của cơ chế thị trường.

Chiến lược CNH, HĐH trong thời gian dài chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm cần thiết cho từng giai đoạn phấn đấu. Nhiều cơ chế, chính sách còn thiếu, hoặc thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

CNH, HĐH theo yêu cầu “rút ngắn”, cũng chưa làm rõ được những nội dung cơ bản, và động lực để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn.

Xu hướng kinh tế thế giới: Công nghiệp thế giới có xu hướng tăng chậm hơn, trong khi áp lực cạnh tranh giữa các nước công nghiệp mới và đang phát triển càng “gay gắt”. Do khoa học và công nghệ phát triển nhanh, nhiều nền kinh tế đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng từ nguy cơ chuyển sang thời kỳ hậu công nghiệp sớm hơn so với dự kiến.

Phát triển kinh tế và ngành công nghiệp: Tăng trưởng kinh tế nước ta vẫn dựa nhiều vào đầu tư vốn và tăng trưởng tín dụng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên khoa học công nghệ và tri thức. Do đó, nền kinh tế nước ta phát triển thiếu bền vững, chất lượng tăng trưởng không cao.

Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế, vẫn còn khoảng cách lớn để đạt đến mức là một nước có nền kinh tế phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đang đặt ra các thách thức đối với nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH.

Tăng trưởng của ngành công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP cả nước chưa cao, và tăng/giảm không ổn định trong các giai đoạn vừa qua. Đến năm 2018, ngành công nghiệp đạt 28,4%, thấp hơn năm 2010 (đạt 31,7%).

Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp thực hiện còn chậm, chưa tạo ra những thay đổi đáng kể về cơ cấu công nghiệp. Ngành Khai khoáng, dù tỷ trọng VA của ngành có xu hướng giảm dần (từ 36,5% xuống 25,9% trong giai đoạn 2011-2018) nhưng vẫn chiếm cao trong cơ cấu VA toàn ngành công nghiệp.

Chỉ số GDP/người: Từ năm 2000 đến nay, GDP/người của nước ta đã tăng khá nhanh, đến năm 2018 đạt 2.590 USD/người, gấp hơn 6,6 lần so với năm 2000. Tính theo sức mua tương đương thì GDP/người của Việt Nam hiện đạt khoảng 7.435 USD/người.

Từ số liệu các năm cho thấy, mặc dù GDP/người của Việt Nam đã có những bước cải thiện so với mức bình quân của thế giới (từ 26,0% năm 2000, lên 34,2% năm 2010 và 41,3% năm 2018), tuy nhiên trong gần 20 năm phát triển kinh tế đã qua cho thấy, khoảng cách chệch lệch của Việt Nam với thế giới vẫn còn ở mức khá cao. So sánh tương đối với một số quốc gia trong “Các nước mới công nghiệp” (NICs) thì Việt Nam hiện tương đương với Ấn Độ (đạt 7.874 USD); thấp hơn Philipine (8.936 USD); bằng 1/2 của Indonesia, Nam Phi, Braxin và từ 1/3-1/4 của Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia.

Có thể nói hiện nay, chỉ số GDP/người là một vấn đề lớn của nền kinh tế nước ta, trong việc tính toán và xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới.

Năng suất lao động: Năng suất lao động có mối liên hệ trực tiếp với GDP/người và đang thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam hiện có diện tích thuộc nhóm trung bình của thế giới và đặc biệt đang có nhiều thuận lợi về dân số (quy mô, độ tuổi lao động), tuy nhiên năng suất lao động của Việt Nam nói chung, và ngành công nghiệp nói riêng vẫn đang ở mức độ thấp, khi so với các nước phát triển. Qua đó cho thấy, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới, để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước trong khu vực, và trên thế giới.

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Năng lực cạnh tranh toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam chỉ ở mức trung bình và có vị trí tăng/giảm không ổn định trong thời gian vừa qua. Đến năm 2019, Việt Nam đứng vị trí 67/141 nền kinh tế, tăng thêm 10 bậc so với năm 2018 và vẫn còn một khoảng cách khá xa, so với các nước đứng đầu trong khu vực ASEAN.

Dân số và nguồn nhân lực: Việt Nam là quốc gia có tốc độ già hóa dân số khá nhanh so với thế giới. Nước ta đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự báo đến năm 2030, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ tăng lên 17% và đạt đến 25% vào năm 2050. Quá trình già hóa dân số nhanh sẽ khiến lực lượng lao động bị thu hẹp, ảnh hưởng đến năng suất lao động của toàn nền kinh tế, và tác động lâu dài đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Đây là một thách thức lớn, đến phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai gần.

Chất lượng nguồn nhân lực thiếu hụt lao động có tay nghề cao; cơ cấu lao động qua đào tạo bất hợp lý và lạc hậu (Tỷ lệ tương quan giữa số lượng lao động có trình độ đại học trở lên/caođẳng/trungcấp/sơ cấp nghề năm 2018 là: 1/0,37/0,54/0,37). Có thể đánh giá, việc hạn chế về nguồn nhân lực đang được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình phát triển kinh tế và CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.

Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế và thúc đẩy quá trình CNH; huy động nguồn lực của xã hội vào các hoạt động khoa học và công nghệ còn yếu; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo, với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý.

Xuất khẩu hàng hóa: Chính sách phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP nhưng chưa vững chắc. Độ mở của nền kinh tế qua kênh xuất khẩu khá lớn nhưng quy mô xuất khẩu còn nhỏ; chỉ số xuất khẩu sản xuất bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình trên thế giới.

Xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hiện chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu), dẫn đến nền kinh tế và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng, gặp nhiều khó khăn trong việc chủ động phát triển các ngành công nghiệp trong dài hạn, do doanh nghiệp FDI, có thể sẽ chuyển hoặc đầu tư sang các quốc gia khác sản xuất, nếu các điều kiện cho đầu tư và sản xuất, tiếp cận thị trường xuất khẩu,... gặp thuận lợi hơn.

Đầu tư từ nước ngoài: Hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đạt thấp. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp và có tỷ lệ nội địa hóa thấp; chưa tạo được sự lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước như kỳ vọng. Thu hút đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên từ các tập đoàn lớn đa quốc gia còn hạn chế; hơn một nửa dự án FDI có quy mô dưới 1 triệu USD.

Quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng: Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ khá nhanh, nhưng thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; trình độ, năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu.

Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế xã hội. Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng với sự đổi thay về tư duy quản lý đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng CNH và HĐH.

Theo Cổng thông tin Bộ Công thương

Tin bài khác
Xuất khẩu Cần Thơ tăng 13,4% trong 8 tháng đầu năm

Xuất khẩu Cần Thơ tăng 13,4% trong 8 tháng đầu năm

Xuất khẩu tăng 13,4%, công nghiệp tăng 10% và bán lẻ tăng 19,6% trong 8 tháng đang tạo nền tảng mới cho kinh tế Cần Thơ. Tuy nhiên, mục tiêu phía trước không chỉ là tăng kim ngạch mà còn nâng tỷ trọng hàng công nghệ cao, đẩy mạnh chế biến sâu và cải thiện năng lực đưa hàng hóa của vùng ra thị trường quốc tế.
85 dự án mở rộng không gian đầu tư của Cần Thơ đến năm 2030

85 dự án mở rộng không gian đầu tư của Cần Thơ đến năm 2030

Từ 85 dự án mời gọi đầu tư, trong đó có hàng loạt khu công nghiệp quy mô lớn và trung tâm logistics hàng không 100 ha, Cần Thơ đang chuẩn bị một không gian phát triển mới gắn sản xuất với đô thị và lưu chuyển hàng hóa.
871 tỷ đồng mở quỹ đất công nghiệp mới ở vùng Đồng Tháp Mười

871 tỷ đồng mở quỹ đất công nghiệp mới ở vùng Đồng Tháp Mười

Với tổng vốn hơn 871,6 tỷ đồng, Cụm công nghiệp Thạnh Tân được đầu tư hạ tầng đồng bộ trên diện tích 50 ha, trong đó hơn 32 ha dành cho nhà máy, kho tàng. Dự án được kỳ vọng tạo thêm không gian sản xuất và chế biến ngay tại vùng Đồng Tháp Mười.
Ưu đãi “Vì tương lai xanh” lần 2 tạo động lực cho gia đình đổi xe xăng sang VinFast VF MPV 7

Ưu đãi “Vì tương lai xanh” lần 2 tạo động lực cho gia đình đổi xe xăng sang VinFast VF MPV 7

Giá sau ưu đãi 682,5 triệu đồng cùng chính sách hỗ trợ vay và miễn phí sạc tạo thêm động lực để gia đình chuyển sang VinFast VF MPV 7 và nâng cấp trải nghiệm.
Xuất khẩu vào EU: Doanh nghiệp cần chủ động trước thay đổi về dư lượng

Xuất khẩu vào EU: Doanh nghiệp cần chủ động trước thay đổi về dư lượng

EU đang siết kiểm soát dư lượng và rà soát dung sai nhập khẩu, buộc doanh nghiệp Việt phải chủ động thích ứng thay vì chờ quy định mới có hiệu lực.
Cảng Cần Thơ mở cửa ngõ logistics mới sang Tây Nam Trung Quốc

Cảng Cần Thơ mở cửa ngõ logistics mới sang Tây Nam Trung Quốc

Chuyến tàu container đầu tiên từ Nam Ninh đến Cần Thơ đánh dấu một kết nối quốc tế mới, đưa cảng trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tham gia sâu hơn vào mạng lưới logistics khu vực. Ngày 24/9, Công ty Cổ phần Cảng Cần Thơ, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) và Tập đoàn Cảng Vịnh Bắc Bộ tổ chức lễ đón chuyến tàu đầu tiên trên tuyến vận tải container quốc tế sông biển trực tiếp từ Cảng Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) đến Cảng Cần Thơ.
Cần Thơ tìm cách giữ khách lâu hơn để tăng giá trị du lịch

Cần Thơ tìm cách giữ khách lâu hơn để tăng giá trị du lịch

Lượng du khách khách đến Cần Thơ đã tăng mạnh, nhưng tỷ trọng khách quốc tế và khách lưu trú còn thấp đang đặt chính quyền cùng cộng đồng doanh nghiệp du lịch trước yêu cầu thay đổi cách làm, từ kéo khách đến giữ khách và tăng giá trị chuyến đi.
Nghị quyết 57: Thúc đẩy công nghệ, nâng sức cạnh tranh doanh nghiệp

Nghị quyết 57: Thúc đẩy công nghệ, nâng sức cạnh tranh doanh nghiệp

Nghị quyết 57 đang được ngành Công Thương cụ thể hóa bằng các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và công nghệ, thúc đẩy nghiên cứu gắn với ứng dụng thực tiễn.
Tuần lễ sản phẩm Việt - Lào tại Hà Nội: Hơn 100 sản phẩm đặc trưng được giới thiệu

Tuần lễ sản phẩm Việt - Lào tại Hà Nội: Hơn 100 sản phẩm đặc trưng được giới thiệu

Hơn 100 sản phẩm đặc trưng của Việt Nam và Lào sẽ được trưng bày, giới thiệu và bán trực tiếp tại Hà Nội từ ngày 1-4/10, mở thêm cơ hội kết nối giao thương giữa hai nước.
Giá dễ tiếp cận, ưu đãi tới 9%, sạc 0 đồng: Bài toán sở hữu ô tô đầu tiên nhẹ hơn với xe điện VinFast

Giá dễ tiếp cận, ưu đãi tới 9%, sạc 0 đồng: Bài toán sở hữu ô tô đầu tiên nhẹ hơn với xe điện VinFast

Với gia đình trẻ mua ô tô lần đầu, bài toán tài chính gồm cả khoản tiền cần chuẩn bị khi nhận xe và chi phí sử dụng. Mức giá dễ tiếp cận, chính sách “Mua xe 0 đồng” cùng ưu đãi lên tới 9% từ chương trình “Vì tương lai xanh” lần 2 dành cho các dòng xe VinFast tạo điều kiện cho người dùng sở hữu ô tô dễ hơn.
Doanh nghiệp Việt rộng cửa xuất khẩu vào thị trường Halal

Doanh nghiệp Việt rộng cửa xuất khẩu vào thị trường Halal

Thị trường Halal quy mô hàng nghìn tỷ USD mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt, nhất là trong lĩnh vực nông sản, thực phẩm và thủy sản.
Doanh nghiệp SME cần gì để không bị bỏ lại trong kỷ nguyên AI?

Doanh nghiệp SME cần gì để không bị bỏ lại trong kỷ nguyên AI?

Trong bối cảnh AI và chuyển đổi số đang làm thay đổi nhanh cách doanh nghiệp vận hành, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đứng trước yêu cầu nâng cấp năng lực quản trị. Kinh nghiệm của người sáng lập vẫn quan trọng, nhưng khó đủ khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp ngày càng tăng.
Nghị quyết 57: Công nghệ mở hướng nâng giá trị đặc sản vùng cao

Nghị quyết 57: Công nghệ mở hướng nâng giá trị đặc sản vùng cao

Ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang giúp đặc sản vùng cao nâng năng suất, chất lượng, giá trị và mở rộng thị trường.
Nhập khẩu tăng gần gấp 3 lần xuất khẩu, Việt Nam nhập siêu 2,82 tỷ USD

Nhập khẩu tăng gần gấp 3 lần xuất khẩu, Việt Nam nhập siêu 2,82 tỷ USD

Nửa đầu tháng 9/2026, nhập khẩu tăng 7,16%, gần gấp ba mức tăng 2,4% của xuất khẩu, khiến cán cân thương mại nhập siêu 2,82 tỷ USD.
Vietravel Airlines đón thêm Airbus A321, tăng nguồn cung cho cao điểm cuối năm

Vietravel Airlines đón thêm Airbus A321, tăng nguồn cung cho cao điểm cuối năm

Ngày 21/9, tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài (Hà Nội), Vietravel Airlines chính thức tiếp nhận thêm tàu bay Airbus A321 mang số hiệu VN-A292, tiếp tục thực hiện kế hoạch mở rộng quy mô đội tàu trong năm 2026. Việc bổ sung tàu bay giúp hãng tăng cường năng lực khai thác cho giai đoạn cao điểm cuối năm 2026 và dịp Tết Nguyên đán Đinh Mùi 2027.