Thứ bảy 10/10/2026 10:55
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

Khó khăn và thách thức trong quá trình công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay

08/06/2022 13:55
Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới. Quá trình này đã góp phần

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa.

Các quốc gia công nghiệp phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa mới đều thành công trên con đường công nghiệp hóa nhờ biết xác định kịp thời mô hình công nghiệp hóa phù hợp với bối cảnh thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước. Chỉ tính từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có 2 mô hình công nghiệp hóa rất thành công. Mô hình thay thế nhập khẩu đã biến các quốc gia Braxin, Mêhicô, Áchentina và Chilê thành các “con hổ” Mỹ La tinh. Sau đó, mô hình hướng xuất khẩu đã đem lại sự phát triển thần kỳ cho các “con hổ” Đông Á: Xinhgapo, Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo phương châm hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu ở những lĩnh vực, mặt hàng có lợi thế.

Quá trình này đã góp phần đem lại cho đất nước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tuy nhiên, như Đại hội XIII kiểm điểm: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt được mục tiêu đề ra”.

Với tính cách thị trường thương mại, thế giới ngày nay đã bị các Hiệp định thương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liên hoàn, thống nhất. Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trường quốc nội và thị trường quốc tế. Trong bối cảnh mới như vậy, các mô hình công nghiệp hóa nêu trên hiển nhiên là không còn chỗ đứng. Việt Nam cũng như các quốc gia khác, rất cần xác định mới mô hình công nghiệp hóa, vừa thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ tư…, vừa phù hợp với điều kiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội XIII nêu rõ mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới”.

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xác định là những ưu tiên phát triển bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp và vật liệu mới…

Có thể khái quát, với tầm nhìn chiến lược, bám sát nền sản xuất công nghiệp và kinh tế công nghiệp của thế giới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đã kế thừa và bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đây là cơ sở quan trọng hàng đầu để Chính phủ và các cấp, các ngành xây dựng những chính sách cụ thể, kịp thời và hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu đất nước có nền công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2025 và có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030.

Một số khó khăn và thách thức đặt ra với quá trình CNH ở nước ta hiện nay

Lý luận và Mô hình kinh tế: Mô hình CNH, HĐH của Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện; chưa được cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của một nước công nghiệp. Thực hiện CNH, HĐH chưa bằng thể chế của nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật khách quan của cơ chế thị trường.

Chiến lược CNH, HĐH trong thời gian dài chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm cần thiết cho từng giai đoạn phấn đấu. Nhiều cơ chế, chính sách còn thiếu, hoặc thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

CNH, HĐH theo yêu cầu “rút ngắn”, cũng chưa làm rõ được những nội dung cơ bản, và động lực để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn.

Xu hướng kinh tế thế giới: Công nghiệp thế giới có xu hướng tăng chậm hơn, trong khi áp lực cạnh tranh giữa các nước công nghiệp mới và đang phát triển càng “gay gắt”. Do khoa học và công nghệ phát triển nhanh, nhiều nền kinh tế đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng từ nguy cơ chuyển sang thời kỳ hậu công nghiệp sớm hơn so với dự kiến.

Phát triển kinh tế và ngành công nghiệp: Tăng trưởng kinh tế nước ta vẫn dựa nhiều vào đầu tư vốn và tăng trưởng tín dụng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên khoa học công nghệ và tri thức. Do đó, nền kinh tế nước ta phát triển thiếu bền vững, chất lượng tăng trưởng không cao.

Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế, vẫn còn khoảng cách lớn để đạt đến mức là một nước có nền kinh tế phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đang đặt ra các thách thức đối với nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH.

Tăng trưởng của ngành công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP cả nước chưa cao, và tăng/giảm không ổn định trong các giai đoạn vừa qua. Đến năm 2018, ngành công nghiệp đạt 28,4%, thấp hơn năm 2010 (đạt 31,7%).

Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp thực hiện còn chậm, chưa tạo ra những thay đổi đáng kể về cơ cấu công nghiệp. Ngành Khai khoáng, dù tỷ trọng VA của ngành có xu hướng giảm dần (từ 36,5% xuống 25,9% trong giai đoạn 2011-2018) nhưng vẫn chiếm cao trong cơ cấu VA toàn ngành công nghiệp.

Chỉ số GDP/người: Từ năm 2000 đến nay, GDP/người của nước ta đã tăng khá nhanh, đến năm 2018 đạt 2.590 USD/người, gấp hơn 6,6 lần so với năm 2000. Tính theo sức mua tương đương thì GDP/người của Việt Nam hiện đạt khoảng 7.435 USD/người.

Từ số liệu các năm cho thấy, mặc dù GDP/người của Việt Nam đã có những bước cải thiện so với mức bình quân của thế giới (từ 26,0% năm 2000, lên 34,2% năm 2010 và 41,3% năm 2018), tuy nhiên trong gần 20 năm phát triển kinh tế đã qua cho thấy, khoảng cách chệch lệch của Việt Nam với thế giới vẫn còn ở mức khá cao. So sánh tương đối với một số quốc gia trong “Các nước mới công nghiệp” (NICs) thì Việt Nam hiện tương đương với Ấn Độ (đạt 7.874 USD); thấp hơn Philipine (8.936 USD); bằng 1/2 của Indonesia, Nam Phi, Braxin và từ 1/3-1/4 của Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia.

Có thể nói hiện nay, chỉ số GDP/người là một vấn đề lớn của nền kinh tế nước ta, trong việc tính toán và xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới.

Năng suất lao động: Năng suất lao động có mối liên hệ trực tiếp với GDP/người và đang thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam hiện có diện tích thuộc nhóm trung bình của thế giới và đặc biệt đang có nhiều thuận lợi về dân số (quy mô, độ tuổi lao động), tuy nhiên năng suất lao động của Việt Nam nói chung, và ngành công nghiệp nói riêng vẫn đang ở mức độ thấp, khi so với các nước phát triển. Qua đó cho thấy, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới, để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước trong khu vực, và trên thế giới.

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Năng lực cạnh tranh toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam chỉ ở mức trung bình và có vị trí tăng/giảm không ổn định trong thời gian vừa qua. Đến năm 2019, Việt Nam đứng vị trí 67/141 nền kinh tế, tăng thêm 10 bậc so với năm 2018 và vẫn còn một khoảng cách khá xa, so với các nước đứng đầu trong khu vực ASEAN.

Dân số và nguồn nhân lực: Việt Nam là quốc gia có tốc độ già hóa dân số khá nhanh so với thế giới. Nước ta đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự báo đến năm 2030, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ tăng lên 17% và đạt đến 25% vào năm 2050. Quá trình già hóa dân số nhanh sẽ khiến lực lượng lao động bị thu hẹp, ảnh hưởng đến năng suất lao động của toàn nền kinh tế, và tác động lâu dài đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Đây là một thách thức lớn, đến phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai gần.

Chất lượng nguồn nhân lực thiếu hụt lao động có tay nghề cao; cơ cấu lao động qua đào tạo bất hợp lý và lạc hậu (Tỷ lệ tương quan giữa số lượng lao động có trình độ đại học trở lên/caođẳng/trungcấp/sơ cấp nghề năm 2018 là: 1/0,37/0,54/0,37). Có thể đánh giá, việc hạn chế về nguồn nhân lực đang được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình phát triển kinh tế và CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.

Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế và thúc đẩy quá trình CNH; huy động nguồn lực của xã hội vào các hoạt động khoa học và công nghệ còn yếu; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo, với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý.

Xuất khẩu hàng hóa: Chính sách phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP nhưng chưa vững chắc. Độ mở của nền kinh tế qua kênh xuất khẩu khá lớn nhưng quy mô xuất khẩu còn nhỏ; chỉ số xuất khẩu sản xuất bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình trên thế giới.

Xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hiện chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu), dẫn đến nền kinh tế và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng, gặp nhiều khó khăn trong việc chủ động phát triển các ngành công nghiệp trong dài hạn, do doanh nghiệp FDI, có thể sẽ chuyển hoặc đầu tư sang các quốc gia khác sản xuất, nếu các điều kiện cho đầu tư và sản xuất, tiếp cận thị trường xuất khẩu,... gặp thuận lợi hơn.

Đầu tư từ nước ngoài: Hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đạt thấp. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp và có tỷ lệ nội địa hóa thấp; chưa tạo được sự lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước như kỳ vọng. Thu hút đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên từ các tập đoàn lớn đa quốc gia còn hạn chế; hơn một nửa dự án FDI có quy mô dưới 1 triệu USD.

Quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng: Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ khá nhanh, nhưng thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; trình độ, năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu.

Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế xã hội. Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng với sự đổi thay về tư duy quản lý đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng CNH và HĐH.

Theo Cổng thông tin Bộ Công thương

Tin bài khác
Doanh nghiệp Việt trước yêu cầu thực hành ESG để giữ vị thế trong chuỗi cung ứng

Doanh nghiệp Việt trước yêu cầu thực hành ESG để giữ vị thế trong chuỗi cung ứng

Thực hành ESG đang trở thành yêu cầu quan trọng để doanh nghiệp Việt đáp ứng tiêu chuẩn xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Doanh nghiệp Việt mở rộng cơ hội xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới

Doanh nghiệp Việt mở rộng cơ hội xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở thêm kênh xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt, giúp rút ngắn khoảng cách với người tiêu dùng quốc tế và mở rộng dư địa tăng trưởng.
Nhà cho thuê: HoREA đề xuất mở rộng nguồn cung từ tư nhân

Nhà cho thuê: HoREA đề xuất mở rộng nguồn cung từ tư nhân

Bài toán nhà ở không chỉ nằm ở việc xác định ai được thuê mà còn ở việc có đủ nhà để thuê. HoREA đề xuất mở rộng loại hình nhà cho thuê, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân cùng tham gia phát triển nguồn cung.
BNI APAC SME’s Expo 2026: Điểm kết nối doanh nghiệp khu vực

BNI APAC SME’s Expo 2026: Điểm kết nối doanh nghiệp khu vực

Từ ngày 8 đến 10/10/2026, BNI APAC SME’s Expo 2026 do BNI Việt Nam tổ chức sẽ diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, tạo không gian để cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Việt Nam và doanh nghiệp từ nhiều quốc gia châu Á - Thái Bình Dương gặp gỡ, tìm hiểu nhu cầu của nhau và tìm kiếm cơ hội hợp tác, giao thương.
Doanh nghiệp bao bì Việt trước sức ép “siết xanh” từ thị trường xuất khẩu

Doanh nghiệp bao bì Việt trước sức ép “siết xanh” từ thị trường xuất khẩu

Yêu cầu về tái chế, vật liệu và minh bạch thông tin đang buộc doanh nghiệp bao bì Việt Nam thay đổi để đáp ứng cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
Xe điện, xe nhập khẩu đua giá, doanh nghiệp ô tô căng vốn

Xe điện, xe nhập khẩu đua giá, doanh nghiệp ô tô căng vốn

Thị trường ô tô đang bước vào một chu kỳ tăng trưởng nhanh nhưng không dễ chuyển hóa thành dòng tiền. Doanh số 6 tháng đầu năm tăng 33,8%, song biên lợi nhuận kinh doanh cốt lõi giảm, hàng tồn kho tăng 37% và phần lớn doanh nghiệp ô tô niêm yết ghi nhận dòng tiền hoạt động âm.
Chứng khoán có thể được giao dịch xuyên trưa, nghiên cứu nới biên độ giá

Chứng khoán có thể được giao dịch xuyên trưa, nghiên cứu nới biên độ giá

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang nghiên cứu điều chỉnh thời gian và phương thức giao dịch, trong đó có phương án giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và cắt giảm một số phiên khớp lệnh định kỳ. Các thay đổi được đặt trong yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định thị trường.
Tận dụng CPTPP: Doanh nghiệp Việt cần chủ động nguồn cung

Tận dụng CPTPP: Doanh nghiệp Việt cần chủ động nguồn cung

CPTPP mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu Việt Nam, song tỷ lệ tận dụng ưu đãi xuất xứ chưa đến 10%, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chủ động nguồn nguyên liệu và tái cấu trúc chuỗi cung ứng.
Đơn vị nào thu mua phế liệu giá cao, uy tín tại Bắc Ninh?

Đơn vị nào thu mua phế liệu giá cao, uy tín tại Bắc Ninh?

Trong bối cảnh nhu cầu thanh lý phế liệu công nghiệp và dân dụng tại Bắc Ninh ngày càng tăng, việc lựa chọn đơn vị thu mua uy tín, định giá minh bạch và thanh toán nhanh được nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình quan tâm. Với hơn 20 năm kinh nghiệm, Phế Liệu Đại Bảo cung cấp dịch vụ thu mua đồng, nhôm, inox, sắt thép, nhựa kỹ thuật và nhiều loại phế liệu khác tận nơi trên địa bàn tỉnh.
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam hướng tới 12 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường lớn nhất

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam hướng tới 12 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường lớn nhất

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam có thể đạt 12 tỷ USD năm 2026, trong đó Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, còn tôm và cá tra giữ vai trò chủ lực.
50 tỷ USD FDI mở rộng dư địa cho doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng

50 tỷ USD FDI mở rộng dư địa cho doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng

9 tháng năm 2026, Việt Nam thu hút 50,36 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tăng 76,4% so với cùng kỳ. Dòng vốn tăng mạnh mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về công nghệ, chất lượng, quản trị và tiêu chuẩn sản xuất.
Thương vụ 110 tỷ USD và tham vọng tái định hình Hollywood của Skydance

Thương vụ 110 tỷ USD và tham vọng tái định hình Hollywood của Skydance

Thương vụ thâu tóm Warner Bros Discovery trị giá 110 tỷ USD mở đường cho sự ra đời của một “đế chế” giải trí mang tên Skydance, quy tụ hàng loạt thương hiệu lớn từ điện ảnh, truyền hình đến phát trực tuyến. Tuy nhiên, phía sau tham vọng định hình lại bản đồ Hollywood là sức ép cắt giảm 6 tỷ USD chi phí và kiểm soát khối nợ khoảng 80 tỷ USD.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 7,8%, rau quả và thủy sản bứt tốc

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 7,8%, rau quả và thủy sản bứt tốc

9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8%, trong đó rau quả và thủy sản tiếp tục là những điểm sáng.
Go Global bắt đầu từ tư duy của người lãnh đạo doanh nghiệp

Go Global bắt đầu từ tư duy của người lãnh đạo doanh nghiệp

ILS 2026 đặt ra bài toán Go Global cho doanh nghiệp Việt từ tư duy lãnh đạo, năng lực đội ngũ, địa phương hóa đến xây dựng mạng lưới quốc tế.
Xuất khẩu thời dữ liệu, doanh nghiệp Việt phải bán cả “hồ sơ” sản phẩm

Xuất khẩu thời dữ liệu, doanh nghiệp Việt phải bán cả “hồ sơ” sản phẩm

Thị trường quốc tế ngày càng siết yêu cầu về truy xuất, tiêu chuẩn, mã sản phẩm và minh bạch chuỗi cung ứng. Với doanh nghiệp Việt, năng lực xuất khẩu vì thế không còn chỉ nằm ở giá và chất lượng hàng hóa, mà còn ở khả năng quản trị và cung cấp dữ liệu có thể kiểm chứng.