Thứ bảy 01/08/2026 07:15
Hotline: 024.355.63.010
Kinh doanh

Khó khăn và thách thức trong quá trình công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay

08/06/2022 13:55
Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới. Quá trình này đã góp phần

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa.

Các quốc gia công nghiệp phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa mới đều thành công trên con đường công nghiệp hóa nhờ biết xác định kịp thời mô hình công nghiệp hóa phù hợp với bối cảnh thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước. Chỉ tính từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có 2 mô hình công nghiệp hóa rất thành công. Mô hình thay thế nhập khẩu đã biến các quốc gia Braxin, Mêhicô, Áchentina và Chilê thành các “con hổ” Mỹ La tinh. Sau đó, mô hình hướng xuất khẩu đã đem lại sự phát triển thần kỳ cho các “con hổ” Đông Á: Xinhgapo, Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo phương châm hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu ở những lĩnh vực, mặt hàng có lợi thế.

Quá trình này đã góp phần đem lại cho đất nước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tuy nhiên, như Đại hội XIII kiểm điểm: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt được mục tiêu đề ra”.

Với tính cách thị trường thương mại, thế giới ngày nay đã bị các Hiệp định thương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liên hoàn, thống nhất. Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trường quốc nội và thị trường quốc tế. Trong bối cảnh mới như vậy, các mô hình công nghiệp hóa nêu trên hiển nhiên là không còn chỗ đứng. Việt Nam cũng như các quốc gia khác, rất cần xác định mới mô hình công nghiệp hóa, vừa thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ tư…, vừa phù hợp với điều kiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội XIII nêu rõ mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới”.

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xác định là những ưu tiên phát triển bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp và vật liệu mới…

Có thể khái quát, với tầm nhìn chiến lược, bám sát nền sản xuất công nghiệp và kinh tế công nghiệp của thế giới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đã kế thừa và bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đây là cơ sở quan trọng hàng đầu để Chính phủ và các cấp, các ngành xây dựng những chính sách cụ thể, kịp thời và hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu đất nước có nền công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2025 và có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030.

Một số khó khăn và thách thức đặt ra với quá trình CNH ở nước ta hiện nay

Lý luận và Mô hình kinh tế: Mô hình CNH, HĐH của Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện; chưa được cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của một nước công nghiệp. Thực hiện CNH, HĐH chưa bằng thể chế của nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật khách quan của cơ chế thị trường.

Chiến lược CNH, HĐH trong thời gian dài chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm cần thiết cho từng giai đoạn phấn đấu. Nhiều cơ chế, chính sách còn thiếu, hoặc thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

CNH, HĐH theo yêu cầu “rút ngắn”, cũng chưa làm rõ được những nội dung cơ bản, và động lực để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn.

Xu hướng kinh tế thế giới: Công nghiệp thế giới có xu hướng tăng chậm hơn, trong khi áp lực cạnh tranh giữa các nước công nghiệp mới và đang phát triển càng “gay gắt”. Do khoa học và công nghệ phát triển nhanh, nhiều nền kinh tế đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng từ nguy cơ chuyển sang thời kỳ hậu công nghiệp sớm hơn so với dự kiến.

Phát triển kinh tế và ngành công nghiệp: Tăng trưởng kinh tế nước ta vẫn dựa nhiều vào đầu tư vốn và tăng trưởng tín dụng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên khoa học công nghệ và tri thức. Do đó, nền kinh tế nước ta phát triển thiếu bền vững, chất lượng tăng trưởng không cao.

Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế, vẫn còn khoảng cách lớn để đạt đến mức là một nước có nền kinh tế phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đang đặt ra các thách thức đối với nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH.

Tăng trưởng của ngành công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP cả nước chưa cao, và tăng/giảm không ổn định trong các giai đoạn vừa qua. Đến năm 2018, ngành công nghiệp đạt 28,4%, thấp hơn năm 2010 (đạt 31,7%).

Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp thực hiện còn chậm, chưa tạo ra những thay đổi đáng kể về cơ cấu công nghiệp. Ngành Khai khoáng, dù tỷ trọng VA của ngành có xu hướng giảm dần (từ 36,5% xuống 25,9% trong giai đoạn 2011-2018) nhưng vẫn chiếm cao trong cơ cấu VA toàn ngành công nghiệp.

Chỉ số GDP/người: Từ năm 2000 đến nay, GDP/người của nước ta đã tăng khá nhanh, đến năm 2018 đạt 2.590 USD/người, gấp hơn 6,6 lần so với năm 2000. Tính theo sức mua tương đương thì GDP/người của Việt Nam hiện đạt khoảng 7.435 USD/người.

Từ số liệu các năm cho thấy, mặc dù GDP/người của Việt Nam đã có những bước cải thiện so với mức bình quân của thế giới (từ 26,0% năm 2000, lên 34,2% năm 2010 và 41,3% năm 2018), tuy nhiên trong gần 20 năm phát triển kinh tế đã qua cho thấy, khoảng cách chệch lệch của Việt Nam với thế giới vẫn còn ở mức khá cao. So sánh tương đối với một số quốc gia trong “Các nước mới công nghiệp” (NICs) thì Việt Nam hiện tương đương với Ấn Độ (đạt 7.874 USD); thấp hơn Philipine (8.936 USD); bằng 1/2 của Indonesia, Nam Phi, Braxin và từ 1/3-1/4 của Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia.

Có thể nói hiện nay, chỉ số GDP/người là một vấn đề lớn của nền kinh tế nước ta, trong việc tính toán và xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới.

Năng suất lao động: Năng suất lao động có mối liên hệ trực tiếp với GDP/người và đang thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam hiện có diện tích thuộc nhóm trung bình của thế giới và đặc biệt đang có nhiều thuận lợi về dân số (quy mô, độ tuổi lao động), tuy nhiên năng suất lao động của Việt Nam nói chung, và ngành công nghiệp nói riêng vẫn đang ở mức độ thấp, khi so với các nước phát triển. Qua đó cho thấy, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới, để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước trong khu vực, và trên thế giới.

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Năng lực cạnh tranh toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam chỉ ở mức trung bình và có vị trí tăng/giảm không ổn định trong thời gian vừa qua. Đến năm 2019, Việt Nam đứng vị trí 67/141 nền kinh tế, tăng thêm 10 bậc so với năm 2018 và vẫn còn một khoảng cách khá xa, so với các nước đứng đầu trong khu vực ASEAN.

Dân số và nguồn nhân lực: Việt Nam là quốc gia có tốc độ già hóa dân số khá nhanh so với thế giới. Nước ta đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự báo đến năm 2030, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ tăng lên 17% và đạt đến 25% vào năm 2050. Quá trình già hóa dân số nhanh sẽ khiến lực lượng lao động bị thu hẹp, ảnh hưởng đến năng suất lao động của toàn nền kinh tế, và tác động lâu dài đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Đây là một thách thức lớn, đến phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai gần.

Chất lượng nguồn nhân lực thiếu hụt lao động có tay nghề cao; cơ cấu lao động qua đào tạo bất hợp lý và lạc hậu (Tỷ lệ tương quan giữa số lượng lao động có trình độ đại học trở lên/caođẳng/trungcấp/sơ cấp nghề năm 2018 là: 1/0,37/0,54/0,37). Có thể đánh giá, việc hạn chế về nguồn nhân lực đang được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình phát triển kinh tế và CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.

Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế và thúc đẩy quá trình CNH; huy động nguồn lực của xã hội vào các hoạt động khoa học và công nghệ còn yếu; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo, với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý.

Xuất khẩu hàng hóa: Chính sách phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP nhưng chưa vững chắc. Độ mở của nền kinh tế qua kênh xuất khẩu khá lớn nhưng quy mô xuất khẩu còn nhỏ; chỉ số xuất khẩu sản xuất bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình trên thế giới.

Xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hiện chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu), dẫn đến nền kinh tế và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng, gặp nhiều khó khăn trong việc chủ động phát triển các ngành công nghiệp trong dài hạn, do doanh nghiệp FDI, có thể sẽ chuyển hoặc đầu tư sang các quốc gia khác sản xuất, nếu các điều kiện cho đầu tư và sản xuất, tiếp cận thị trường xuất khẩu,... gặp thuận lợi hơn.

Đầu tư từ nước ngoài: Hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đạt thấp. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp và có tỷ lệ nội địa hóa thấp; chưa tạo được sự lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước như kỳ vọng. Thu hút đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên từ các tập đoàn lớn đa quốc gia còn hạn chế; hơn một nửa dự án FDI có quy mô dưới 1 triệu USD.

Quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng: Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ khá nhanh, nhưng thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; trình độ, năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu.

Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế xã hội. Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng với sự đổi thay về tư duy quản lý đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng CNH và HĐH.

Theo Cổng thông tin Bộ Công thương

Tin bài khác
Ông chủ trẻ người Đức chia sẻ cách đạt tiêu chuẩn EU Bio và Naturland Fair của trang trại hữu cơ

Ông chủ trẻ người Đức chia sẻ cách đạt tiêu chuẩn EU Bio và Naturland Fair của trang trại hữu cơ

Ông chủ trẻ Trang trại biểu mẫu về nông nghiệp sinh học tại Đức đến Việt Nam để chia sẻ cách đạt tiêu chuẩn hữu cơ của Liên minh Châu Âu (EU Bio) lẫn bộ quy chuẩn khắt khe của Naturland Fair.
Liên kết để tạo giá trị: Hướng đi mới của doanh nghiệp F&B trong kỷ nguyên trải nghiệm

Liên kết để tạo giá trị: Hướng đi mới của doanh nghiệp F&B trong kỷ nguyên trải nghiệm

Thay vì phát triển riêng lẻ, nhiều doanh nghiệp F&B đang lựa chọn liên kết để khai thác thế mạnh của nhau, từ hạ tầng, vận hành đến hệ thống khách hàng. Cách tiếp cận này không chỉ giúp tối ưu chi phí đầu tư mà còn tạo điều kiện để các sản phẩm thủ công của doanh nghiệp Việt có thêm cơ hội hiện diện trong những không gian dịch vụ hiện đại, đáp ứng xu hướng tiêu dùng đề cao trải nghiệm và giá trị bản địa.
Đà giảm cổ phiếu AI kéo theo áp lực ký quỹ với các quỹ đầu cơ

Đà giảm cổ phiếu AI kéo theo áp lực ký quỹ với các quỹ đầu cơ

Làn sóng bán tháo cổ phiếu AI đang khiến nhiều quỹ đầu cơ chịu áp lực bổ sung tài sản bảo đảm, trong bối cảnh các ngân hàng Phố Wall thận trọng hơn với rủi ro đòn bẩy và mức độ tập trung danh mục.
Doanh nghiệp ngành nhựa tăng tốc lợi nhuận quý II, nhiều đơn vị lập kỷ lục kinh doanh

Doanh nghiệp ngành nhựa tăng tốc lợi nhuận quý II, nhiều đơn vị lập kỷ lục kinh doanh

Kết quả kinh doanh quý II/2026 cho thấy bức tranh khởi sắc của ngành nhựa khi nhiều doanh nghiệp ngành nhựa ghi nhận lợi nhuận cao kỷ lục nhờ nhu cầu tiêu thụ phục hồi, giá nguyên liệu đầu vào ở mức thuận lợi và hiệu quả kiểm soát chi phí. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng trong thời gian tới được dự báo sẽ có sự phân hóa giữa các nhóm doanh nghiệp.
ALLU bật mí cách bán trang sức hàng hiệu được giá, an tâm và minh bạch

ALLU bật mí cách bán trang sức hàng hiệu được giá, an tâm và minh bạch

ALLU chuyên thu mua đa dạng các dòng sản phẩm xa xỉ như đồng hồ, túi xách, trang sức và kim cương từ các thương hiệu hàng đầu thế giới. Chúng tôi sẵn sàng tiếp nhận mọi tình trạng sản phẩm từ những món đồ mới nguyên, đã qua sử dụng cho đến các item có dấu hiệu hao mòn hay hỏng hóc theo thời gian.
Thiết lập địa chỉ văn phòng đại diện tại Việt Nam cùng The Sentry

Thiết lập địa chỉ văn phòng đại diện tại Việt Nam cùng The Sentry

Việc thành lập Văn phòng đại diện (RO) tại Việt Nam đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp lý, trong đó sở hữu một địa chỉ kinh doanh hợp lệ là yếu tố tiên quyết. Tuy nhiên, quy trình đàm phán hợp đồng thuê truyền thống, rủi ro pháp lý từ các địa điểm không phù hợp như căn hộ chung cư cùng chi phí thiết lập ban đầu tốn kém thường trở thành rào cản làm chậm tiến độ thâm nhập thị trường.
Chuẩn hóa vận hành - chìa khóa nâng chất lượng dịch vụ

Chuẩn hóa vận hành - chìa khóa nâng chất lượng dịch vụ

Trong ngành dịch vụ, chất lượng không đến từ những khoảnh khắc xuất sắc mà từ khả năng duy trì trải nghiệm đồng nhất mỗi ngày. Đằng sau đó là hệ thống tiêu chuẩn, quy trình và dữ liệu được xây dựng bài bản, tạo nền tảng cho năng lực vận hành và lợi thế cạnh tranh bền vững.
Lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết quý II tăng chậm lại, nhóm phi tài chính tiếp tục dẫn dắt

Lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết quý II tăng chậm lại, nhóm phi tài chính tiếp tục dẫn dắt

Đến ngày 27/7, đã có 574 doanh nghiệp niêm yết và ngân hàng niêm yết công bố kết quả kinh doanh quý II/2026. Dù lợi nhuận sau thuế vẫn tăng 23,5% so với cùng kỳ, tốc độ tăng đã chậm lại và là mức thấp nhất trong bốn quý gần đây, phản ánh bức tranh phục hồi chưa đồng đều giữa các nhóm ngành.
Doanh nghiệp Việt chủ động truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu mới từ thị trường Hoa Kỳ

Doanh nghiệp Việt chủ động truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu mới từ thị trường Hoa Kỳ

Chính sách mới của Hoa Kỳ về hàng hóa liên quan đến lao động cưỡng bức đang đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tăng cường truy xuất nguồn gốc, minh bạch nguyên liệu đầu vào và hoàn thiện hệ thống quản trị chuỗi cung ứng nhằm giảm thiểu rủi ro khi xuất khẩu.
Phố Wall trái chiều trước tuần công bố lợi nhuận của nhóm công nghệ lớn

Phố Wall trái chiều trước tuần công bố lợi nhuận của nhóm công nghệ lớn

Thị trường chứng khoán Mỹ khép lại phiên đầu tuần trong trạng thái phân hóa, khi nhà đầu tư thận trọng chờ kết quả kinh doanh của các tập đoàn công nghệ lớn, đồng thời theo dõi biến động giá dầu và tín hiệu chính sách lãi suất từ Fed.
Luật Thương mại điện tử mở ra "luật chơi" mới: KOL, KOC và người bán hàng online không thể bán hàng theo cảm tính

Luật Thương mại điện tử mở ra "luật chơi" mới: KOL, KOC và người bán hàng online không thể bán hàng theo cảm tính

Từ việc công khai thông tin người bán, siết trách nhiệm của KOL, KOC, livestream bán hàng, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân và nghĩa vụ thuế, Luật Thương mại điện tử cùng các quy định liên quan đang tạo ra một "luật chơi" mới trên môi trường số. Theo các chuyên gia, đây không phải là rào cản mà là bước hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm xây dựng hệ sinh thái thương mại điện tử minh bạch, công bằng và phát triển bền vững.
Chuyên gia marketing Hermawan Kartajaya nói gì về cơ hội của F&B Việt?

Chuyên gia marketing Hermawan Kartajaya nói gì về cơ hội của F&B Việt?

Chuyên gia marketing Hermawan Kartajaya nhận định F&B Việt có nhiều cơ hội chinh phục thị trường quốc tế, đặc biệt tại Indonesia. Theo ông, chìa khóa thành công không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm mà còn ở khả năng xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện văn hóa và ứng dụng tư duy Marketing 7.0.
Xây thương hiệu để bán giá trị, không bán giá rẻ

Xây thương hiệu để bán giá trị, không bán giá rẻ

Trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không còn đến từ quy mô hay giá bán thấp mà nằm ở khả năng tạo dựng thương hiệu, xây dựng hệ sinh thái khách hàng và mang lại giá trị khác biệt.
VinFast xuất hơn 5.000 ô tô điện tới châu Âu và Đông Nam Á trên hai tàu chuyên dụng

VinFast xuất hơn 5.000 ô tô điện tới châu Âu và Đông Nam Á trên hai tàu chuyên dụng

Trong hai ngày 20-21/7, 2 tàu vận tải quốc tế Sea Patris và Silver Queen đã cập cảng Hải Phòng, đưa hơn 5.000 xe ô tô điện VinFast tới các thị trường châu Âu và khu vực. Đây là chuyến tàu chuyên dụng thứ 37 và 38 của VinFast sau chưa đầy 4 năm xuất khẩu lô 999 xe đầu tiên ra thế giới.
Ai đã chi 6.500 tỷ đồng mua thỏa thuận gần 130 triệu cổ phiếu LPBank phiên 21/7?

Ai đã chi 6.500 tỷ đồng mua thỏa thuận gần 130 triệu cổ phiếu LPBank phiên 21/7?

Gần 130 triệu cổ phiếu LPBank vừa được sang tay theo hình thức thỏa thuận với giá 50.000 đồng/cp, tương ứng giá trị thị trường 6.500 tỷ đồng.