Thứ bảy 10/01/2026 02:39
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

Khó khăn và thách thức trong quá trình công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay

08/06/2022 13:55
Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới. Quá trình này đã góp phần

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa.

Các quốc gia công nghiệp phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa mới đều thành công trên con đường công nghiệp hóa nhờ biết xác định kịp thời mô hình công nghiệp hóa phù hợp với bối cảnh thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước. Chỉ tính từ giữa thế kỷ XX đến nay, đã có 2 mô hình công nghiệp hóa rất thành công. Mô hình thay thế nhập khẩu đã biến các quốc gia Braxin, Mêhicô, Áchentina và Chilê thành các “con hổ” Mỹ La tinh. Sau đó, mô hình hướng xuất khẩu đã đem lại sự phát triển thần kỳ cho các “con hổ” Đông Á: Xinhgapo, Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo phương châm hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu ở những lĩnh vực, mặt hàng có lợi thế.

Quá trình này đã góp phần đem lại cho đất nước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tuy nhiên, như Đại hội XIII kiểm điểm: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt được mục tiêu đề ra”.

Với tính cách thị trường thương mại, thế giới ngày nay đã bị các Hiệp định thương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liên hoàn, thống nhất. Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trường quốc nội và thị trường quốc tế. Trong bối cảnh mới như vậy, các mô hình công nghiệp hóa nêu trên hiển nhiên là không còn chỗ đứng. Việt Nam cũng như các quốc gia khác, rất cần xác định mới mô hình công nghiệp hóa, vừa thích ứng với chuỗi giá trị toàn cầu, cách mạng công nghiệp lần thứ tư…, vừa phù hợp với điều kiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội XIII nêu rõ mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới”.

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xác định là những ưu tiên phát triển bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp và vật liệu mới…

Có thể khái quát, với tầm nhìn chiến lược, bám sát nền sản xuất công nghiệp và kinh tế công nghiệp của thế giới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đã kế thừa và bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đây là cơ sở quan trọng hàng đầu để Chính phủ và các cấp, các ngành xây dựng những chính sách cụ thể, kịp thời và hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu đất nước có nền công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2025 và có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030.

Một số khó khăn và thách thức đặt ra với quá trình CNH ở nước ta hiện nay

Lý luận và Mô hình kinh tế: Mô hình CNH, HĐH của Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện; chưa được cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của một nước công nghiệp. Thực hiện CNH, HĐH chưa bằng thể chế của nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật khách quan của cơ chế thị trường.

Chiến lược CNH, HĐH trong thời gian dài chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm cần thiết cho từng giai đoạn phấn đấu. Nhiều cơ chế, chính sách còn thiếu, hoặc thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

CNH, HĐH theo yêu cầu “rút ngắn”, cũng chưa làm rõ được những nội dung cơ bản, và động lực để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn.

Xu hướng kinh tế thế giới: Công nghiệp thế giới có xu hướng tăng chậm hơn, trong khi áp lực cạnh tranh giữa các nước công nghiệp mới và đang phát triển càng “gay gắt”. Do khoa học và công nghệ phát triển nhanh, nhiều nền kinh tế đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng từ nguy cơ chuyển sang thời kỳ hậu công nghiệp sớm hơn so với dự kiến.

Phát triển kinh tế và ngành công nghiệp: Tăng trưởng kinh tế nước ta vẫn dựa nhiều vào đầu tư vốn và tăng trưởng tín dụng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, dựa trên khoa học công nghệ và tri thức. Do đó, nền kinh tế nước ta phát triển thiếu bền vững, chất lượng tăng trưởng không cao.

Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế, vẫn còn khoảng cách lớn để đạt đến mức là một nước có nền kinh tế phát triển. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đang đặt ra các thách thức đối với nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH.

Tăng trưởng của ngành công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP cả nước chưa cao, và tăng/giảm không ổn định trong các giai đoạn vừa qua. Đến năm 2018, ngành công nghiệp đạt 28,4%, thấp hơn năm 2010 (đạt 31,7%).

Quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp thực hiện còn chậm, chưa tạo ra những thay đổi đáng kể về cơ cấu công nghiệp. Ngành Khai khoáng, dù tỷ trọng VA của ngành có xu hướng giảm dần (từ 36,5% xuống 25,9% trong giai đoạn 2011-2018) nhưng vẫn chiếm cao trong cơ cấu VA toàn ngành công nghiệp.

Chỉ số GDP/người: Từ năm 2000 đến nay, GDP/người của nước ta đã tăng khá nhanh, đến năm 2018 đạt 2.590 USD/người, gấp hơn 6,6 lần so với năm 2000. Tính theo sức mua tương đương thì GDP/người của Việt Nam hiện đạt khoảng 7.435 USD/người.

Từ số liệu các năm cho thấy, mặc dù GDP/người của Việt Nam đã có những bước cải thiện so với mức bình quân của thế giới (từ 26,0% năm 2000, lên 34,2% năm 2010 và 41,3% năm 2018), tuy nhiên trong gần 20 năm phát triển kinh tế đã qua cho thấy, khoảng cách chệch lệch của Việt Nam với thế giới vẫn còn ở mức khá cao. So sánh tương đối với một số quốc gia trong “Các nước mới công nghiệp” (NICs) thì Việt Nam hiện tương đương với Ấn Độ (đạt 7.874 USD); thấp hơn Philipine (8.936 USD); bằng 1/2 của Indonesia, Nam Phi, Braxin và từ 1/3-1/4 của Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia.

Có thể nói hiện nay, chỉ số GDP/người là một vấn đề lớn của nền kinh tế nước ta, trong việc tính toán và xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới.

Năng suất lao động: Năng suất lao động có mối liên hệ trực tiếp với GDP/người và đang thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam hiện có diện tích thuộc nhóm trung bình của thế giới và đặc biệt đang có nhiều thuận lợi về dân số (quy mô, độ tuổi lao động), tuy nhiên năng suất lao động của Việt Nam nói chung, và ngành công nghiệp nói riêng vẫn đang ở mức độ thấp, khi so với các nước phát triển. Qua đó cho thấy, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới, để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước trong khu vực, và trên thế giới.

Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Năng lực cạnh tranh toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam chỉ ở mức trung bình và có vị trí tăng/giảm không ổn định trong thời gian vừa qua. Đến năm 2019, Việt Nam đứng vị trí 67/141 nền kinh tế, tăng thêm 10 bậc so với năm 2018 và vẫn còn một khoảng cách khá xa, so với các nước đứng đầu trong khu vực ASEAN.

Dân số và nguồn nhân lực: Việt Nam là quốc gia có tốc độ già hóa dân số khá nhanh so với thế giới. Nước ta đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự báo đến năm 2030, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ tăng lên 17% và đạt đến 25% vào năm 2050. Quá trình già hóa dân số nhanh sẽ khiến lực lượng lao động bị thu hẹp, ảnh hưởng đến năng suất lao động của toàn nền kinh tế, và tác động lâu dài đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Đây là một thách thức lớn, đến phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai gần.

Chất lượng nguồn nhân lực thiếu hụt lao động có tay nghề cao; cơ cấu lao động qua đào tạo bất hợp lý và lạc hậu (Tỷ lệ tương quan giữa số lượng lao động có trình độ đại học trở lên/caođẳng/trungcấp/sơ cấp nghề năm 2018 là: 1/0,37/0,54/0,37). Có thể đánh giá, việc hạn chế về nguồn nhân lực đang được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình phát triển kinh tế và CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.

Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế và thúc đẩy quá trình CNH; huy động nguồn lực của xã hội vào các hoạt động khoa học và công nghệ còn yếu; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo, với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý.

Xuất khẩu hàng hóa: Chính sách phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP nhưng chưa vững chắc. Độ mở của nền kinh tế qua kênh xuất khẩu khá lớn nhưng quy mô xuất khẩu còn nhỏ; chỉ số xuất khẩu sản xuất bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình trên thế giới.

Xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hiện chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu), dẫn đến nền kinh tế và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng, gặp nhiều khó khăn trong việc chủ động phát triển các ngành công nghiệp trong dài hạn, do doanh nghiệp FDI, có thể sẽ chuyển hoặc đầu tư sang các quốc gia khác sản xuất, nếu các điều kiện cho đầu tư và sản xuất, tiếp cận thị trường xuất khẩu,... gặp thuận lợi hơn.

Đầu tư từ nước ngoài: Hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đạt thấp. Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp và có tỷ lệ nội địa hóa thấp; chưa tạo được sự lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước như kỳ vọng. Thu hút đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên từ các tập đoàn lớn đa quốc gia còn hạn chế; hơn một nửa dự án FDI có quy mô dưới 1 triệu USD.

Quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng: Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ khá nhanh, nhưng thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; trình độ, năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu.

Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế xã hội. Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng với sự đổi thay về tư duy quản lý đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng CNH và HĐH.

Theo Cổng thông tin Bộ Công thương

Tin bài khác
Từ “làm cho đúng” đến lợi thế cạnh tranh: Bài học quản trị ESG từ hành trình xanh hóa của Vinamilk

Từ “làm cho đúng” đến lợi thế cạnh tranh: Bài học quản trị ESG từ hành trình xanh hóa của Vinamilk

Kiên trì theo đuổi các chuẩn mực ESG từ rất sớm, Vinamilk đã biến những yêu cầu tưởng chừng “cứng nhắc” thành nền tảng quản trị hiệu quả, giúp doanh nghiệp không chỉ đáp ứng luật chơi bền vững toàn cầu mà còn tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn trên thị trường.
“Nghĩ lớn” không chỉ là giấc mơ của startup

“Nghĩ lớn” không chỉ là giấc mơ của startup

Tại phiên thảo luận “Nghĩ lớn” trong khuôn khổ CEO Circle Forum 2026 diễn ra chiều 7/1, những khái niệm tưởng chừng quen thuộc về tầm nhìn và khát vọng đã được đặt vào những chiều kích rất khác nhau. Từ các định chế tài chính, doanh nghiệp niêm yết vốn hóa tỷ đô cho đến một startup cà phê khởi nghiệp giữa đại ngàn Tây Nguyên, “nghĩ lớn” không còn là khẩu hiệu, mà trở thành bài toán về bản lĩnh, kỷ luật và sự phù hợp với nội lực.
Bản đồ Starbucks Đông Nam Á: Ai thắng thế, ai chật vật trong cơn gió ngược?

Bản đồ Starbucks Đông Nam Á: Ai thắng thế, ai chật vật trong cơn gió ngược?

Starbucks tại Đông Nam Á đang bước vào giai đoạn phân hóa mạnh khi Maxim’s Group vươn lên dẫn đầu khu vực, trong khi Malaysia và Indonesia chật vật vì làn sóng tẩy chay kéo dài.
Hộ kinh doanh sẽ được cảnh báo tự động khi hồ sơ khai thuế có sai sót

Hộ kinh doanh sẽ được cảnh báo tự động khi hồ sơ khai thuế có sai sót

Toàn bộ hồ sơ khai thuế của hộ kinh doanh sẽ được hệ thống công nghệ thông tin của ngành Thuế phân tích, kiểm tra tự động và gửi cảnh báo sai sót kịp thời, giúp người nộp thuế chủ động điều chỉnh, hạn chế rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Thủy sản vượt mốc 11 tỷ USD xuất khẩu: Nền tảng cho mục tiêu phát triển bền vững

Thủy sản vượt mốc 11 tỷ USD xuất khẩu: Nền tảng cho mục tiêu phát triển bền vững

Xuất khẩu thủy sản lập kỷ lục mới trong năm 2025, song các yêu cầu về IUU, truy xuất nguồn gốc và thể chế đang đặt ngành trước ngưỡng cải cách.
HDBank vào Top cổ phiếu chiến lược

HDBank vào Top cổ phiếu chiến lược

Maybank Securities đánh giá tích cực thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2026, cho rằng ngành ngân hàng tiếp tục là trụ cột tăng trưởng. HDBank được đưa vào Top cổ phiếu chiến lược với tiềm năng tăng giá 58%.
Từ kênh phụ đến trụ cột: Thương mại điện tử định hình tương lai doanh nghiệp

Từ kênh phụ đến trụ cột: Thương mại điện tử định hình tương lai doanh nghiệp

Thương mại điện tử tại Việt Nam đang chuyển từ kênh bán hàng bổ trợ sang trụ cột phân phối chính. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây không còn là lựa chọn, mà là bài toán sinh tồn buộc phải tái cấu trúc tư duy, chiến lược và năng lực vận hành.
Startup Việt tham gia thị trường Mỹ: Đi ngược dòng nhưng đi đúng đường

Startup Việt tham gia thị trường Mỹ: Đi ngược dòng nhưng đi đúng đường

Startup Việt chọn “ra biển lớn” từ ngày đầu. Biến rơm rạ thành mồi lửa sinh thái, bán thẳng sang Mỹ, Canada, Bắc Âu – một lối đi ngược dòng nhưng đầy tính toán.
Ngành dệt may trước thử thách: Làm gì để nâng cấp chuỗi giá trị?

Ngành dệt may trước thử thách: Làm gì để nâng cấp chuỗi giá trị?

Bước sang năm 2026, ngành dệt may Việt Nam đứng trước một loạt thách thức đan xen, đến từ cả yếu tố bên ngoài lẫn nội tại. Trong bối cảnh đó, câu hỏi cốt lõi đặt ra là: Doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần làm gì để duy trì vị thế và thích ứng với trật tự thương mại mới đang hình thành?
Ngành gỗ Việt Nam bước vào năm 2026 với "khoảng thở" chính sách

Ngành gỗ Việt Nam bước vào năm 2026 với "khoảng thở" chính sách

Quyết định của Mỹ hoãn tăng thuế đối với một số sản phẩm gỗ thành phẩm sang năm 2027, cùng loạt chính sách tháo gỡ đầu vào trong nước có hiệu lực từ đầu năm 2026, đang tạo “khoảng thở” quan trọng cho ngành gỗ Việt Nam.
Đầu tư xây dựng lưới điện năm 2025: EVNSPC về đích vượt chỉ tiêu, khẳng định tư duy quản trị “đi trước một bước”

Đầu tư xây dựng lưới điện năm 2025: EVNSPC về đích vượt chỉ tiêu, khẳng định tư duy quản trị “đi trước một bước”

Năm 2025, vượt qua những thách thức về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư và điều kiện thời tiết cực đoan, Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) đã hoàn thành xuất sắc công tác đầu tư xây dựng hạ tầng lưới điện, về đích vượt chỉ tiêu EVN giao; qua đó nâng cao năng lực cung ứng điện, bảo đảm an ninh năng lượng và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội khu vực phía Nam.
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sau mốc 11,3 tỷ USD: Hướng đi nào cho năm 2026?

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sau mốc 11,3 tỷ USD: Hướng đi nào cho năm 2026?

Sau khi thiết lập mốc kỷ lục hơn 11,3 tỷ USD trong năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam bước vào năm 2026 với tâm thế mới nhiều cơ hội mở ra nhưng thách thức vẫn đan xen, đòi hỏi ngành phải chuyển từ tăng trưởng linh hoạt sang phát triển bền vững.
Xuất khẩu điều tiến sát 5 tỷ USD: Cơ hội lớn năm 2026

Xuất khẩu điều tiến sát 5 tỷ USD: Cơ hội lớn năm 2026

Năm 2025 khép lại với dấu mốc đáng chú ý của ngành điều Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu ước tiến sát mốc 5 tỷ USD, vượt xa mục tiêu ban đầu 4,5 tỷ USD. Kết quả này không chỉ phản ánh nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, mà còn là thành quả tổng hòa của điều hành chính sách, đầu tư công nghệ, cải thiện chuỗi sản xuất và sự thích ứng linh hoạt trước biến động thương mại toàn cầu.
Khởi nghiệp xanh từ men vi sinh bản địa: Biến rác thải thành cơ hội kinh tế

Khởi nghiệp xanh từ men vi sinh bản địa: Biến rác thải thành cơ hội kinh tế

Khởi nghiệp xanh từ men vi sinh bản địa giúp biến rác thải thành tài nguyên, mở ra cơ hội kinh tế bền vững và bảo vệ môi trường ngay tại cộng đồng.
Nông nghiệp công nghệ cao và bài toán phát triển bền vững của doanh nghiệp trẻ

Nông nghiệp công nghệ cao và bài toán phát triển bền vững của doanh nghiệp trẻ

Nông nghiệp đang bước vào giai đoạn “tái định nghĩa” giá trị: không chỉ bán nông sản thô, mà bán công nghệ, quy trình, thương hiệu và khả năng chinh phục thị trường. Tại Hà Nội sáng 25/12/2025, Tọa đàm “Khởi nghiệp từ nông nghiệp công nghệ cao, cơ hội và thách thức” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức đã phác họa rõ bức tranh ấy: cơ hội rộng mở cho doanh nghiệp trẻ, nhưng đi kèm là áp lực vốn, năng lực quản trị và rủi ro thị trường ngày một khắt khe.