Thứ sáu 04/09/2026 12:36
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Hướng dẫn thực hiện giảm thuế giá trị gia tăng với hàng hoá, dịch vụ

02/11/2021 14:09
Nghị định số 92/2021/NĐ-CP đã quy định cụ thể về việc giảm thuế giá trị gia tăng với một số nhóm hàng hoá, dịch vụ.

Sẽ giảm thuế giá trị gia tăng kể từ ngày 1/11/2021 đến hết ngày 31/12/2021 đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ. Ảnh: Internet.

Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 quy định: giảm thuế giá trị gia tăng kể từ ngày 1/11/2021 đến hết ngày 31/12/2021 đối với các hàng hóa, dịch vụ của 2 nhóm:

Nhóm thứ nhất: dịch vụ vận tải (vận tải đường sắt, vận tải đường thủy, vận tải hàng không, vận tải đường bộ khác); dịch vụ lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch.

Nhóm thứ hai: sản phẩm và dịch vụ xuất bản; dịch vụ điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; tác phẩm nghệ thuật và dịch vụ sáng tác, nghệ thuật, giải trí; dịch vụ của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; dịch vụ thể thao, vui chơi và giải trí.

Hàng hóa, dịch vụ trong nhóm thứ hai không bao gồm phần mềm xuất bản và các hàng hóa, dịch vụ sản xuất kinh doanh theo hình thức trực tuyến.

Tùy thuộc vào phương pháp tính thuế, mức giảm thuế giá trị gia tăng được áp dụng như sau:

Doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng.

Doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng.

Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 406, Nghị định số 92/2021/NĐ-CP đã quy định về xác định hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế nhưng mới chỉ thể hiện về nguyên tắc chung việc giảm thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ theo ngành kinh tế. Để có cơ sở thực hiện việc giảm thuế giá trị gia tăng thì cần phải phân loại, xác định cụ thể từng hàng hóa, dịch vụ.

Hiện việc phân loại, xác định các hoạt động trong các ngành kinh tế được căn cứ theo Danh mục hệ thống ngành kinh tế Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 6/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (gồm 5 cấp) và Quyết định số 43/2018/QĐ-TTg ngày 1/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam (gồm 7 cấp).

Để thuận lợi cho việc xác định hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế giá trị gia tăng và đảm bảo đúng nguyên tắc của thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 92/2021/NĐ-CP đã ban hành kèm theo Phụ lục Danh mục hàng hóa, dịch vụ được giảm mức thuế giá trị gia tăng. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng thì thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng.

Đối với việc lập hóa đơn, việc giảm thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp, tổ chức được áp dụng cả 2 phương pháp tính là phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp tỷ lệ % trên doanh thu nên Nghị định số 92/2021/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể việc xuất hóa đơn để đảm bảo thực hiện đúng quy định của Nghị quyết, đồng thời để người mua hàng hóa, dịch vụ biết rõ hàng hóa, dịch vụ đã được giảm thuế giá trị gia tăng.

Theo đó, đối với doanh nghiệp, tổ chức áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thì việc xác định giảm 30% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng được thực hiện trực tiếp trên hóa đơn giá trị gia tăng khi doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ: “Khi lập hoá đơn giá trị gia tăng cung cấp hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng giảm thuế giá trị gia tăng, tại dòng thuế suất thuế giá trị gia tăng ghi “mức thuế suất theo quy định (5% hoặc 10%) x 70%”; tiền thuế giá trị gia tăng; tổng số tiền người mua phải thanh toán. Căn cứ hóa đơn giá trị gia tăng, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ kê khai thuế giá trị gia tăng đầu ra, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh mua hàng hóa, dịch vụ kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào theo số thuế đã giảm ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng”.

Đối với doanh nghiệp, tổ chức áp dụng phương pháp trực tiếp tỷ lệ % trên doanh thu sử dụng hóa đơn bán hàng, trên hóa đơn bán hàng không có tiêu thức thuế giá trị gia tăng, do đó, Nghị định số 92/2021/NĐ-CP quy định doanh nghiệp, tổ chức thực hiện giảm 30% mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng tại dòng “Cộng tiền hàng hóa, dịch vụ”.

Đối với trường hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh nhiều hàng hóa, dịch vụ, để đảm bảo cơ quan Thuế theo dõi, quản lý và xác định đúng nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, Nghị định số 92/2021/NĐ-CP hướng dẫn doanh nghiệp, tổ chức thực hiện lập hóa đơn riêng cho hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế giá trị gia tăng.

Đối với trường hợp doanh nghiệp, tổ chức đã lập hóa đơn và đã kê khai theo mức thuế suất hoặc mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng chưa được giảm, Nghị định số 92/2021/NĐ-CP quy định những trường hợp này được phép lập hóa đơn điều chỉnh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Cụ thể, người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hóa đơn điều chỉnh sai sót và giao hóa đơn điều chỉnh cho người mua. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, người bán kê khai điều chỉnh thuế đầu ra, người mua kê khai điều chỉnh thuế đầu vào (nếu có).

Đối với trường hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng được giảm thuế giá trị gia tăng đã phát hành hóa đơn đặt in dưới hình thức vé có in sẵn mệnh giá mà chưa sử dụng hết và có nhu cầu tiếp tục sử dụng, Nghị định số 92/2021/NĐ-CP quy định tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức thực hiện đóng dấu theo giá đã giảm 30% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng hoặc giá đã giảm 30% mức tỷ lệ % bên cạnh tiêu thức giá in sẵn để tiếp tục sử dụng.

Theo TCHQ

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

8 tháng năm 2026, TP. H Chí Minh giải ngân 85.141 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 57,7% kế hoạch năm, cao hơn bình quân chung cả nước; thu hút hơn 10 tỷ USD FDI, tăng 167,3% so với cùng kỳ.
Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Khi thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, yêu cầu xử lý dự án tồn đọng được đặt cùng với giải ngân đầu tư công, tháo gỡ thủ tục và nâng cao trách nhiệm thực thi. Mục tiêu là đưa những nguồn lực đang bị đình trệ trở lại nền kinh tế.
Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn và mở thêm dư địa cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026.
Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công, xử lý dự án tồn đọng và những tác động từ bên ngoài vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành trong những tháng cuối năm.
Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Ở chiều chi, đầu tư phát triển tiếp tục là điểm nhấn khi tăng 35,4%, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi các nhiệm vụ an sinh, quốc phòng, an ninh và trả nợ được bảo đảm.
Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

8 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 18,5%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng tới 55,4%, cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố.
Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Khi các khu kinh tế, khu công nghiệp, đặc khu và địa phương có nhu cầu hợp tác xuyên biên giới ngày càng lớn, dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) đặt ra một cách tiếp cận mới, mở rộng không gian hợp tác nhưng phải đi cùng dữ liệu, trách nhiệm và kiểm soát rủi ro.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 8/2026, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua, cho thấy hoạt động sản xuất đang có sự phục hồi và mở rộng trên diện rộng.
Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Từ phát triển chuỗi cung ứng, logistics đến công nghệ, năng lượng xanh và tài chính, Việt Nam đề xuất 5 định hướng trọng tâm nhằm đưa hợp tác kinh tế Nga - ASEAN từ tiềm năng sang những dự án, dòng thương mại và đầu tư cụ thể, có kết quả đo lường được.
Quy hoạch TP. Hồ Chí Minh và bài toán 800 tỷ USD

Quy hoạch TP. Hồ Chí Minh và bài toán 800 tỷ USD

Quy hoạch tầm nhìn 100 năm mở ra không gian tăng trưởng lớn cho TP. Hồ Chí Minh. Nhưng 800 tỷ USD vào năm 2050 sẽ không đến từ mở rộng không gian, mà từ năng lực tạo ra giá trị mới.
Sân bay Long Thành bước vào chặng nước rút trước ngày vận hành thử

Sân bay Long Thành bước vào chặng nước rút trước ngày vận hành thử

Khoảng 80% giá trị sản lượng đã được thực hiện, Dự án sân bay Long Thành đang bước vào giai đoạn hoàn thiện quyết định tiến độ vận hành. Các nhà thầu được yêu cầu tăng nhân lực, hoàn tất hồ sơ, nghiệm thu và chuẩn bị cho các đợt vận hành thử từ tháng 9.
Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 đạt 10,12%, quy mô kinh tế năm 2025 đứng thứ 9/34 tỉnh, thành phố và vốn FDI lũy kế hơn 26 tỷ USD. Với nền tảng này, bài toán của Tây Ninh trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là thu hút thêm vốn, mà là biến lợi thế sau hợp nhất thành những dự án có công nghệ, năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng thực chất.
Lâm Đồng thúc đẩy liên kết phát triển du lịch 5 địa phương ven biển

Lâm Đồng thúc đẩy liên kết phát triển du lịch 5 địa phương ven biển

Ngày 29/8, UBND phường Mũi Né, Lâm Đồng phối hợp với các xã, phường liên quan tổ chức Hội nghị xúc tiến, quảng bá và liên kết phát triển du lịch Mũi Né - Phú Thủy - Phan Thiết - Tiến Thành - Hòa Thắng năm 2026, nhằm tăng cường kết nối điểm đến, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng không gian phát triển du lịch.
Hải Phòng siết chặt quản lý bến bãi ven sông: Tổng rà soát bến bãi, chấm dứt hoạt động các trường hợp không đủ điều kiện

Hải Phòng siết chặt quản lý bến bãi ven sông: Tổng rà soát bến bãi, chấm dứt hoạt động các trường hợp không đủ điều kiện

Hải Phòng đang triển khai cuộc rà soát toàn diện đối với hoạt động bến, bãi ven sông, hướng tới mục tiêu đến năm 2028, 100% bến bãi đủ điều kiện pháp lý, hoạt động đúng quy hoạch và không để phát sinh bến bãi trái phép mới.