Sau hơn 6 năm triển khai Nghị định 98/2018/NĐ-CP, hàng nghìn mô hình liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đã được hình thành trên cả nước, góp phần tạo vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng nông sản và từng bước thay đổi tư duy sản xuất manh mún của ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, trong bối cảnh các thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn xanh, yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng và giảm phát thải carbon, nhiều mô hình liên kết hiện nay bắt đầu bộc lộ hạn chế về tính bền vững, năng lực quản trị và khả năng thích ứng với xu hướng mới của thị trường toàn cầu.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu khai mạc hội thảo (Ảnh: Lan Chi) |
Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho rằng nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nơi sức cạnh tranh không còn nằm ở từng hộ sản xuất hay từng doanh nghiệp riêng lẻ mà là năng lực của cả chuỗi giá trị.
Theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, thị trường hiện nay không chỉ yêu cầu nông sản đạt tiêu chuẩn chất lượng mà còn đòi hỏi truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng, giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển xanh.
“Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ là giải pháp mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Từ thực tiễn triển khai Nghị định 98, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định cần chuyển mạnh tư duy từ hỗ trợ sản xuất sang phát triển kinh tế nông nghiệp; từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái chuỗi giá trị; từ liên kết ngắn hạn sang hợp tác dài hạn dựa trên chia sẻ lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể.
![]() |
| Ông Lê Đức Thịnh - Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn làm rõ hơn định hướng xây dựng chính sách mới (Ảnh: Lan Chi) |
Làm rõ hơn định hướng xây dựng chính sách mới, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho biết dự thảo nghị định lần này mở rộng phạm vi hỗ trợ sang nhiều khâu then chốt như vùng nguyên liệu, logistics, chế biến, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số và giảm phát thải.
Đáng chú ý, cơ chế hỗ trợ sẽ không còn dừng ở các hoạt động mua bán đơn thuần mà hướng tới các dự án liên kết thực chất, yêu cầu các bên tham gia phải có hợp đồng rõ ràng, minh bạch trách nhiệm, phân chia lợi ích và rủi ro ngay từ đầu.
Tại hội thảo, nhiều doanh nghiệp cho rằng để chuỗi liên kết phát triển bền vững, điều quan trọng nhất là phải tháo gỡ được những “nút thắt” tồn tại nhiều năm liên quan đến vốn, pháp lý và thị trường.
![]() |
| Bà Nguyễn Việt Chinh, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Nông nghiệp Sạch Hữu cơ Toàn Cầu nêu các ý kiến tại hội thảo |
Bà Nguyễn Việt Chinh, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Nông nghiệp Sạch Hữu cơ Toàn Cầu cho rằng tính ràng buộc trong các hợp đồng liên kết hiện còn khá lỏng lẻo, dẫn tới tình trạng phá vỡ cam kết khi giá nông sản biến động. Điều này khiến doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro khi đầu tư dài hạn vào vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất.
Từ kinh nghiệm triển khai các dự án nông nghiệp quy mô lớn, bà Chinh đề xuất dự thảo nghị định cần thúc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và hợp đồng thông minh nhằm tự động hóa quá trình thanh toán, quản lý sản xuất và phân chia lợi ích giữa các bên tham gia chuỗi liên kết.
Theo bà Chinh, một rào cản khác là khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nông nghiệp còn hạn chế. Dù đã đầu tư lớn vào công nghệ, vùng nguyên liệu và hạ tầng sản xuất, nhiều doanh nghiệp vẫn khó vay vốn do thiếu tài sản thế chấp theo quy định hiện hành.
Vì vậy, bà kiến nghị mở rộng khái niệm tài sản bảo đảm, cho phép xem xét dữ liệu vùng trồng, hợp đồng liên kết số hoặc giá trị tín chỉ carbon như một nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh.
Không chỉ dừng ở bài toán vốn, quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh học và phát thải thấp cũng đang gặp nhiều rào cản về thủ tục khảo nghiệm và cấp phép công nghệ mới.
Theo bà Nguyễn Việt Chinh, nếu không có cơ chế thử nghiệm linh hoạt đối với các công nghệ đột phá, doanh nghiệp sẽ khó bắt kịp tốc độ chuyển đổi của thị trường quốc tế. Do đó, cần nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình canh tác mới dưới sự giám sát của cơ quan quản lý nhằm vừa bảo đảm an toàn vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
![]() |
| Hội thảo thu hút sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, DN, HTX, tổ chức quốc tế và chuyên gia (Ảnh: MĐ) |
Ở góc nhìn xuất khẩu, bà Tạ Thị Thu Hiền, Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Hồng Hà cho rằng chất lượng và truy xuất nguồn gốc đang trở thành “tấm vé thông hành” bắt buộc đối với nông sản Việt Nam khi tiếp cận các thị trường khó tính.
Theo bà Hiền, doanh nghiệp từng chứng kiến nhiều lô hàng bị trả về hoặc tiêu hủy do không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng. Điều đó cho thấy việc xây dựng vùng nguyên liệu liên kết, kiểm soát quy trình sản xuất và ứng dụng công nghệ quản lý là yêu cầu sống còn nếu muốn nâng cao vị thế nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
Trong khi đó, ông Lê Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Xuyên Việt đề xuất cần có cơ chế ưu tiên cho các mô hình liên kết khép kín từ giống, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ và xuất khẩu bởi đây là những mô hình cần thời gian dài để hình thành nhưng lại tạo ra giá trị bền vững cho toàn chuỗi.
Nhiều địa phương cũng kiến nghị cần quy định rõ nguồn lực tài chính để triển khai nghị định mới, tạo cơ sở pháp lý cho việc bố trí ngân sách và huy động nguồn lực xã hội phục vụ phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp.
Những ý kiến tại hội thảo cho thấy kỳ vọng lớn vào một nghị định mới không chỉ thay thế Nghị định 98 về mặt kỹ thuật mà còn trở thành nền tảng thể chế quan trọng để thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại, minh bạch, phát thải thấp và có khả năng cạnh tranh cao trong giai đoạn phát triển mới của nền nông nghiệp Việt Nam.