![]() |
| Doanh nghiệp rà soát hồ sơ tiền lương để xác định nghĩa vụ đóng bảo hiểm thất nghiệp của nhân sự quản lý |
Giám đốc có phải đóng bảo hiểm thất nghiệp hay không, tiền lương đóng được xác định thế nào là thắc mắc của ông B.T.D.(tỉnh Ninh Bình). Đây cũng là vấn đề doanh nghiệp cần làm rõ khi lập danh sách tham gia bảo hiểm và tính chi phí tiền lương cho đội ngũ quản lý.
Theo Luật Việc làm 2025, người quản lý doanh nghiệp có hưởng tiền lương thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định nghĩa vụ phải gắn với tình trạng hưởng lương và các trường hợp loại trừ, thay vì chỉ căn cứ vào chức danh giám đốc.
Giám đốc hưởng lương thuộc diện tham gia
Điểm d khoản 1 Điều 31 Luật Việc làm 2025 quy định đối tượng tham gia gồm người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp có hưởng tiền lương.
Với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, quy định áp dụng cho thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu theo Luật Hợp tác xã, có hưởng tiền lương.
Như vậy, giám đốc doanh nghiệp hưởng lương thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp nếu không nằm trong nhóm được loại trừ. Với người quản lý không hưởng lương, không thể áp dụng ngay quy định dành cho nhóm hưởng lương để kết luận phải đóng.
Luật còn quy định ba nhóm tham gia khác: người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ một tháng; người làm việc không trọn thời gian đáp ứng điều kiện về tiền lương; người làm việc theo hợp đồng làm việc.
Trong đó, người làm việc không trọn thời gian phải có tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất. Thỏa thuận mang tên gọi khác vẫn được xem xét nếu thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.
Tuy nhiên, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng theo quy định của Chính phủ hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu không thuộc diện tham gia. Người làm việc theo hợp đồng thử việc và người giúp việc gia đình cũng được loại trừ.
Điều này có nghĩa một giám đốc đang hưởng lương hưu, dù tiếp tục điều hành doanh nghiệp và nhận lương, vẫn phải được xem xét theo ngoại lệ của luật. Doanh nghiệp cần kiểm tra tình trạng hưởng chế độ trước khi đăng ký đóng.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc rà soát nên bắt đầu từ hồ sơ nhân sự quản lý, quyết định bổ nhiệm và hồ sơ tiền lương. Các tài liệu này giúp bộ phận kế toán, nhân sự xác định từng trường hợp, tránh bỏ sót người phải tham gia hoặc đăng ký cho người thuộc diện loại trừ.
Đóng theo tiền lương, có giới hạn tối đa
Khoản 3 Điều 7 Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm quản lý có hưởng lương là tiền lương mà họ được hưởng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ đóng cũng chịu giới hạn. Theo khoản 2 Điều 34 Luật Việc làm 2025, tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố tại thời điểm đóng. Giám đốc có mức lương vượt giới hạn này thì tiền lương tính đóng áp dụng theo trần, không tính trên toàn bộ mức lương vượt trần.
Theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động đóng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng của những người đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Phần đóng thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
![]() |
| Rà soát bảng lương và hồ sơ nhân sự |
Ví dụ giả định, một giám đốc thuộc diện tham gia có tiền lương làm căn cứ đóng là 30 triệu đồng mỗi tháng, thấp hơn trần áp dụng. Người này đóng 300.000 đồng; doanh nghiệp đóng thêm 300.000 đồng. Tổng số tiền nộp vào quỹ cho trường hợp này là 600.000 đồng mỗi tháng.
Doanh nghiệp cần tách rõ khoản khấu trừ từ lương của giám đốc và khoản do doanh nghiệp đóng. Cách tính này giúp xác định đúng tiền lương thực nhận, chi phí sử dụng nhân sự và số tiền phải nộp vào quỹ.
Về quyền lợi, tham gia bảo hiểm thất nghiệp không đồng nghĩa giám đốc đương nhiên được nhận trợ cấp khi thôi chức. Việc hưởng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện, bao gồm chấm dứt làm việc đúng quy định, thời gian đóng và thời hạn nộp hồ sơ.
Thông thường, người đề nghị hưởng phải đóng từ đủ 12 tháng trong 24 tháng trước khi chấm dứt làm việc, nộp đủ hồ sơ trong ba tháng. Trong 10 ngày làm việc kể từ khi nộp đủ hồ sơ, người đề nghị không được thuộc các trường hợp loại trừ theo luật, chẳng hạn đã có việc làm thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Vì vậy, doanh nghiệp cần phân biệt việc miễn nhiệm chức danh với việc chấm dứt làm việc. Nếu giám đốc thôi chức nhưng tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp, hồ sơ phải phản ánh đúng tình trạng việc làm để xác định nghĩa vụ đóng và quyền lợi bảo hiểm.