![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 24/3/2026: Thị trường nội địa ổn định, thị trường xuất khẩu gặp khó khăn. |
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều thương lái và bạn hàng vẫn tiếp tục đợi thị trường ổn định hơn mới mua trở lại, giao dịch mua bán yếu, lúa tươi các loại chững giá. Tại Đồng Tháp, giao dịch mua bán tương đối chậm hơn so với cuối tuần, giá ít biến động.
Tại An Giang, giao dịch mua mới chậm, giá ít chững. Tại Cần Thơ, nông dân chào bán lúa Đông Xuân khá nhiều, neo giá cao, bạn hàng chốt ít. Tại Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán yếu, giá ít biến động.
Bảng giá lúa hôm nay 24/3/2026 tại một số tỉnh khu vực ĐBSCL
| Giống lúa | Giá (đồng/ kg) |
| OM 18 (tươi) | 5.600 – 5.900 |
| Đài Thơm 8 (tươi) | 5.600 – 5.900 |
| OM 380 (tươi) | 5.000 – 5.300 |
| OM 4218 (tươi) | 6.000 – 6.200 |
| IR 50404 (tươi) | 5.000 - 5.300 |
| OM 34 (tươi) | 5.100 – 5.300 |
| OM 5451 (tươi) | 5.400 – 5.700 |
| Nàng Hoa 9 (tươi) | 5.700 - 6.000 |
| OM 504 (tươi) | 5.100 - 5.300 |
| Jasmine (tươi) | 6.200 – 6.500 |
| Lúa Nhật (tươi) | 6.300 – 6.600 |
| ST24-ST25 (thường) | 6.400 – 6.700 |
| RVT (tươi) | 6.200 – 6.500 |
| Japonica | 6.200 – 6.500 |
| Hàm Châu 105 | 5.600 – 5.900 |
Bên cạnh đó, thị trường nếp không ghi nhận biến động mới so với ngày hôm qua 23/3.
| Giống nếp | Giá (đồng/ kg) |
| Nếp IR 4625 (tươi) | 7.300 - 7.500 |
| Nếp IR 4625 (khô) | 9.500 - 9.700 |
| Nếp 3 tháng (tươi) | 5.800 - 6.000 |
| Nếp 3 tháng (khô) | 9.600 - 9.700 |
| Nếp Long An | 6.300 – 6.600 |
Theo khảo sát mới nhất cho thấy giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tương đối ổn định, giao dịch mua bán vẫn trong trạng thái trầm lắng.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg, tăng nhẹ 50 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.800 - 7.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg, so với hôm qua.
| Loại gạo | Giá (đồng/kg) |
| Gạo nguyên liệu OM 5451 | 8.300 – 8.400 |
| Gạo nguyên liệu Sóc thơm | 7.500 - 7.600 |
| Gạo nguyên liệu IR 504 | 8.000 – 8.100 |
| Gạo nguyên liệu CL 555 | 7.800 - 7.900 |
| Gạo nguyên liệu OM 18 | 8.900 – 9.100 |
| Gạo nguyên liệu OM 380 | 7.500 - 7.600 |
| Gạo nguyên liệu Đài thơm 8 | 9.150 – 9.350 |
| Gạo thành phẩm IR 504 | 9.500 – 9.700 |
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thị trường trầm lắng, giá gạo các loại đi ngang. Tại An Giang, kho mua mua chậm, giá gạo bình ổn; riêng phụ phẩm có xu hướng giảm do nguồn cung nhiều. Tại khu vực Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), các bến gạo về lượng ít, đa số các kho mua chậm, gạo các loại tương đối ổn định.
Trên thị trường gạo, tại các chợ lẻ giá gạo đứng giá, ghi nhận không có sự điều chỉnh so với ngày hôm qua. Hôm nay, gạo Nàng Nhen vẫn tiếp tục có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 14.000 đồng/kg.
| Giống gạo | Giá (đồng/ kg) |
| Nàng Nhen | 28.000 |
| Gạo Trắng | 16.000 - 17.000 |
| Gạo Thường | 12.000 – 14.000 |
| Gạo Thơm | 17.000 - 22.000 |
| Gạo thơm Jasmine | 13.000 – 14.000 |
| Gạo Nàng Hoa | 21.000 |
| Gạo Tẻ thường | 13.000 - 14.000 |
| Gạo Thơm Thái hạt dài | 20.000 - 22.000 |
| Gạo Hương Lài | 22.000 |
| Gạo Thơm Đài Loan | 20.000 |
| Gạo Nhật | 22.000 |
| Gạo Sóc thường | 16.000 - 17.000 |
| Gạo Sóc Thái | 20.000 |
Mặt hàng phụ phẩm
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.500 - 11.500 đồng/kg. Hiện tấm thơm 504 dao động ở mức 7.500 - 7.650 đồng/kg; giá cám khô dao động ở mức 10.500 - 11.500 đồng/kg, đi ngang so với hôm qua.
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam duy trì ổn định. Theo đó, gạo Jasmine của Việt Nam tiếp tục được chào bán ở mức 430 - 434 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm đạt 400 - 415 USD/tấn, loại 100% từ 316 - 320 USD/tấn.
Những con số xuất khẩu gạo trong hai tháng đầu năm 2026 cho thấy bức tranh không mấy sáng sủa. Theo số liệu từ Cục Hải quan - Bộ Tài chính, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ đạt xấp xỉ 600 triệu USD, giảm hơn 11%. Nguyên nhân không nằm ở sản lượng, mà chủ yếu do giá suy giảm. Giá xuất khẩu bình quân trong 2 tháng đầu năm đã giảm mạnh xuống còn khoảng 460-465 USD/tấn, thấp hơn 15% so với cùng kỳ.
Đây không phải là một diễn biến bất thường, mà phản ánh rõ nét chu kỳ điều chỉnh của thị trường gạo thế giới sau giai đoạn tăng nóng kéo dài từ năm 2024 sang 2025. Khi nguồn cung toàn cầu dần được khôi phục, đặc biệt từ các quốc gia xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan khiến mặt bằng giá nhanh chóng hạ nhiệt. Thị trường chuyển từ trạng thái “khát hàng” sang “thận trọng”.
Ở chiều cầu, các quốc gia nhập khẩu lớn như Philippines, Indonesia hay nhiều nước châu Phi không còn mua ồ ạt như trước, mà chuyển sang chiến lược “mua chậm, chờ giá”. Điều này khiến các hợp đồng xuất khẩu bị chia nhỏ, kéo dài thời gian đàm phán, thậm chí trì hoãn ký kết.
Trên thị trường, giá gạo 5% tấm của Việt Nam hiện chỉ dao động quanh mức 360-370 USD/tấn, giảm sâu so với đỉnh năm ngoái. Trong khi đó, nguồn cung trong nước lại tăng nhanh khi vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ, đặc biệt là tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tạo áp lực dư cung trong ngắn hạn.
Cấu trúc thị trường cũng đang thay đổi. Philippines vẫn là khách hàng lớn nhất với khoảng 620.000 tấn, chiếm gần 48% tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, nhiều thị trường truyền thống suy giảm mạnh như Ghana giảm khoảng 31%, Bờ Biển Ngà giảm trên 90%. Đáng chú ý, Indonesia - thị trường từng đóng vai trò quan trọng gần như chững lại khi theo đuổi chiến lược tự chủ lương thực.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam nhận định, tình hình xuất khẩu gạo năm 2026 sẽ khó khăn hơn, khi nguồn cung thế giới dồi dào trở lại. Theo đó, sản lượng xuất khẩu có thể chỉ duy trì quanh mức 7 triệu tấn, thay vì tăng trưởng mạnh như giai đoạn trước.