Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp đà tăng 200 - 300 đồng/kg. Tại các địa phương hôm nay, lượng khá, các kho mua đều gạo thơm dẻo, giá gạo ổn định.
![]() |
Giá lúa gạo hôm nay 2/4/2025: Giá lúa tiếp đà tăng 200 - 300 đồng/kg, giá gạo duy trì ổn định |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, lượng khá, các kho mua đều gạo thơm dẻo. Tại An Giang, kho vẫn mua đều gạo thơm dẻo, dễ giao dịch, giá biến động nhẹ với gạo đẹp. Trong khi, kênh chợ Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng về ít, kho mua đều, giá gạo ít biến động.
Ở An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), lượng lai rai, giao dịch mua bán khá hơn, giá ổn định. Còn tại Lấp Vò (Đồng Tháp), lượng ít, kho mua đều, giá gạo không biến động.
Với mặt hàng gạo, tại các khu vực khác của Đồng bằng sông Cửu Long giá gạo ổn định trong phiên sáng nay. Cụ thể, gạo nguyên liệu OM 380 giao dịch từ 7.600 -7.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 7.800 - 8.000 đồng/k; gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 18 dao động ở mức 9.300 - 9.500 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 7.600 - 7.800 đồng/kg.
![]() |
Bảng giá gạo hôm nay 2/4/2025. |
Tại các chợ lẻ, giá gạo chủ yếu đi ngang. Hiện, gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 17.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 18.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 21.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; giá cám hiện ở mức 8.000 - 9.000 đồng/kg.
Thị trường nếp hôm nay không thay đổi. Hiện, giá nếp IR 4625 dao động trong khoảng 7.900 – 8.000 đồng/kg; nếp 3 tháng khô duy trì ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 (tươi) dao động từ 7.600 - 7.700 đồng/kg.
![]() |
Bảng giá nếp hôm nay 2/4/2025. |
Mặt hàng phụ phẩm
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 5.500 - 7.300 đồng/kg. Hiện, giá tấm thơm dao động ở mức 7.100 - 7.300 đồng/kg; tấm 3-4 hiện ở mức 6.800 - 6.900 đồng/kg; trấu dao động từ 800 - 900 đồng/kg; giá cám khô đứng ở mức 5.500 - 5.650 đồng/kg.
![]() |
Bảng giá phụ phẩm hôm nay 2/4/2025. |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương, nguồn khá, giao dịch mua bán tốt hơn. Tại Đồng Tháp, lúa 3 vụ các loại chào giá tăng, giao dịch lai lai, giá chững. Trong khi đó, nguồn lúa tại Bạc Liêu giảm, thương lái hỏi mua nhiều lúa thơm, giá lúa biến động.
Tại Hậu Giang, lúa vãn đồng, nguồn ít dần, đa số lúa đã cọc. Còn tại Kiên Giang, nguồn lúa tại Hòn Đất, Kiên Lương lượng có đều, nông dân chào giá tăng.
Với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục tăng ở một số chủng loại so với ngày hôm qua. Cụ thể, giá thu mua lúa IR 50404 được điều chỉnh tăng 300 đồng/kg, lên mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 5451 tăng 300 đồng/kg, lên mức 6.000 - 6.200 đồng/kg. Các chủng loại khác nhìn chung vẫn ổn định, với giá lúa Đài thơm 8 (tươi) và OM 18 (tươi) trong khoảng 6.600 - 6.700 đồng/kg; lúa Nàng Hoa 9 từ 6.550 - 6.650 đồng/kg;...
![]() |
Bảng giá lúa hôm nay 2/4/2025. |
Tại thị trường xuất khẩu
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong phiên giao dịch gần nhất, giá gạo xuất khẩu gạo 25% tấm ở 369 USD/tấn; gạo 100% tấm ở 325 USD/tấn; gạo 5% tấm ở mức 399 USD/tấn.
Tuy nhiên, giá gạo 5% tấm của Thái Lan tiếp tục giảm 1 USD/tấn, xuống còn 399 USD/tấn và bằng với giá gạo Việt Nam.
Giá gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ tiếp tục giảm mạnh 6 USD/tấn, xuống còn 385 USD/tấn – mức thấp nhất trên thị trường. Tương tự, giá gạo đồ 5% tấm của nước này cũng giảm 5 USD/tấn, chỉ còn 386 USD/tấn. Ngược chiều giảm, giá gạo 5% tấm của Pakistan tăng nhẹ 1 USD/tấn, lên mức 391 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2024-2025 dự kiến đạt mức cao kỷ lục 533,7 triệu tấn (gạo xay xát), tăng 11 triệu tấn so với năm 2024. Nguồn cung toàn cầu dự báo đạt 712,8 triệu tấn (tăng 9,5 triệu tấn). Tiêu thụ toàn cầu dự báo ở mức cao 530,3 triệu tấn, tăng 6,2 triệu tấn so với năm 2024, nhờ sự gia tăng tiêu thụ tại các quốc gia như Ấn Độ và Philippines. Dự trữ cuối kỳ ước tính đạt 182,5 triệu tấn, tăng 3,4 triệu tấn so với năm 2024 (Ấn Độ và Trung Quốc chiếm đến 81% lượng dự trữ toàn cầu). Thương mại toàn cầu dự kiến đạt 58,5 triệu tấn với nhu cầu tăng mạnh từ các thị trường lớn như Philippines và Indonesia.