![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 28/7/2026: Giá gạo nguyên liệu tăng, phụ phẩm biến động trái chiều |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long,giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ 100 – 200 đồng/kg so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 150 đồng/kg, lên mức 9.650 - 9.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 cũng tăng 100 đồng/kg, dao động từ 9.800 - 9.900 đồng/kg. Trong khi giá gạo OM 5451 duy trì ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 29/7/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine hiện ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động từ 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái thu mua với giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 29/7/2026 |
Phân khúc nếp bình ổn so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg;…
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 29/7/2026 |
Giá các loại phụ phẩm chững lại so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm tăng 200 đồng/kg, lên mức 8.500 - 8.700 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám giảm nhẹ 100 đồng/kg, xuống còn 7.900 - 8.000 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch chậm, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định. Tại An Giang, bạn hàng giao dịch ít, giá biến động không nhiều.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch tại một số khu vực, giá vững. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, lúa các loại giá vững giá.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không đổi so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.850 - 7.000 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) hiện ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg; giá lúa tươi IR 50404 vẫn ổn định ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg;...
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 29/7/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo cập nhật từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo trắng 5% tấm của Việt Nam tăng 3 USD/tấn trong phiên giao dịch gần nhất, lên mức 429 - 433 USD/tấn. Trong khi đó, gạo thơm 5% tấm giữ ổn định ở mức 500 - 510 USD/tấn, còn gạo Jasmine được chào bán trong khoảng 546 - 550 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm tăng 8 USD/tấn, lên 455 - 459 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ cũng nhích thêm 1 USD/tấn, đạt 363 - 367 USD/tấn, trong khi gạo đồ 5% tấm tăng 3 USD/tấn, lên 365 - 369 USD/tấn. Ở chiều ngược lại, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan không thay đổi, tiếp tục duy trì trong khoảng 410 - 414 USD/tấn.
Theo Bloomberg, El Niño đang đẩy ngành lúa gạo châu Á vào giai đoạn đầy thách thức khi hạn hán kéo dài đe dọa sản lượng tại nhiều quốc gia sản xuất lớn như Việt Nam, Philippines và Ấn Độ. Trong bối cảnh chi phí nhiên liệu, phân bón tăng cao do tác động từ xung đột tại Trung Đông, nông dân đang chịu sức ép kép khi vừa phải đối mặt với giá đầu vào leo thang, vừa chứng kiến năng suất cây trồng suy giảm vì thiếu nước. Giá gạo Thái Lan – mức tham chiếu của khu vực – đã tăng lên mức cao nhất trong 18 tháng, trong khi thị trường kỳ hạn cũng phản ánh lo ngại ngày càng lớn về nguy cơ thiếu hụt nguồn cung.
Tại Việt Nam, nhiều cánh đồng lúa miền Trung đã chuyển màu vàng sau nhiều tuần khô hạn, khiến nông dân gặp khó khăn trong việc duy trì sản xuất. Một số hộ buộc phải giảm diện tích canh tác hoặc tìm thêm việc làm để bù đắp chi phí phân bón, làm đất và thu hoạch tăng mạnh. Tình trạng tương tự diễn ra tại Philippines, nơi nhiều nông dân phải trì hoãn gieo sạ vì không đủ nước ngập ruộng. Trong khi đó, tại Ấn Độ, lượng mưa gió mùa thấp hơn mức bình thường trong giai đoạn quan trọng của vụ gieo trồng làm dấy lên lo ngại về sản lượng từ quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Các chuyên gia cảnh báo, sự kết hợp giữa thời tiết cực đoan, chi phí sản xuất cao và bất ổn địa chính trị có thể khiến giá gạo duy trì ở mức cao trong thời gian dài, tạo thêm áp lực lên lạm phát lương thực toàn cầu. Dù các chính phủ và tổ chức nghiên cứu đang thúc đẩy giống lúa chịu hạn, công nghệ tiết kiệm nước và phương thức canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu, nhiều nông dân vẫn phải tự xoay xở trước những biến động ngày càng khó lường. Cuộc khủng hoảng này cho thấy ngành lúa gạo châu Á đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải thay đổi để thích nghi với một môi trường sản xuất khắc nghiệt hơn.