![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 30/7/2026: Giá lúa gạo ổn định, Philippines thận trọng nhập khẩu |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 9.650 - 9.750 đồng/kg; gạo CL 555 cũng dao động từ 9.800 - 9.900 đồng/kg; gạo OM 5451 duy trì ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 30/7/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine hiện ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động từ 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái thu mua với giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 30/7/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại không biến động chững lại so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm ở mức 8.500 - 8.700 đồng/kg; giá cám hiện dao động từ 7.900 - 8.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 30/7/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa tăng nhẹ.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.850 - 7.000 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.800 - 7.000 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) hiện ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg; giá lúa tươi IR 50404 vẫn ổn định ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg;...
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 30/7/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo số liệu mới nhất từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện dao động từ 429 - 433 USD/tấn. Trong khi đó, gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 500 - 510 USD/tấn, còn gạo Jasmine giữ trong khoảng 546 - 550 USD/tấn.
Ở các nước xuất khẩu khác, Thái Lan tiếp tục dẫn đầu về giá khi gạo trắng 5% tấm được giao dịch ở mức 455 - 459 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ được chào bán từ 363 - 367 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm ở mức 365 - 369 USD/tấn. Đối với Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm không ghi nhận biến động, tiếp tục ổn định trong khoảng 410 - 414 USD/tấn.
Philippines đang phát đi tín hiệu thận trọng hơn trong chính sách nhập khẩu gạo, qua đó góp phần định hình diễn biến thị trường gạo châu Á thời gian tới. Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel Jr. cho biết nhu cầu nhập khẩu thực tế của nước này trong năm dương lịch 2026 chỉ khoảng 3,6–3,8 triệu tấn, trong khi mức 5–5,2 triệu tấn chỉ là kịch bản nhằm bổ sung dự trữ chiến lược nếu điều kiện thị trường thuận lợi. Đến nay, Philippines đã nhập khoảng 3,3 triệu tấn và ký hợp đồng thêm khoảng 1 triệu tấn, đồng nghĩa phần lớn nhu cầu đã được đảm bảo.
Theo ông Laurel, các quyết định mua thêm sẽ phụ thuộc vào diễn biến giá gạo thế giới và kết quả vụ thu hoạch chính bắt đầu từ tháng 9, chứ không phải mục tiêu nhập khẩu cố định. Cách tiếp cận này đánh dấu sự thay đổi so với giai đoạn 2023–2024, khi lo ngại thiếu hụt nguồn cung và các lệnh hạn chế xuất khẩu buộc Philippines phải tăng cường thu mua. Hiện nay, Manila ưu tiên theo dõi sát cung – cầu và chỉ nhập bổ sung khi giá ở mức hợp lý.
Đánh giá của giới chức Philippines cũng phản ánh kỳ vọng nguồn cung khu vực sẽ cải thiện trong những tháng tới. Ấn Độ vẫn sở hữu lượng tồn kho lớn, trong khi Myanmar, Pakistan, Campuchia và Philippines đều sắp bước vào vụ thu hoạch mới, tạo áp lực giảm giá lên thị trường. Với vị thế là quốc gia nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới, mọi điều chỉnh trong chiến lược mua hàng của Philippines sẽ tiếp tục có tác động đáng kể đến xu hướng giá gạo và hoạt động xuất khẩu của các nước cung ứng lớn tại châu Á.