Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động so với phiên trước. Ở chiều xuất khẩu, thị trường gạo trắng châu Á giao dịch trong trạng thái dè dặt, trước các diễn biến địa chính trị mới, đặc biệt là thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần giữa Mỹ và Iran.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 14/4/2026: Giá lúa gạo ổn định, thị trường xuất khẩu chờ tín hiệu mới |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại bình ổn so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho giao dịch mua bán khá, giá không biến động. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 vẫn giữ ở mức 8.100 – 8.200 đồng/k, gạo nguyên liệu OM 5451 trong khoảng 8.650 – 8.750 đồng/kg; gao OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 14/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 14/4/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 hiện ở mức 7.600 - 7.750 đồng/kg; giá cám ở mức 6.850 – 7.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 14/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Thu Đông giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình do giá gạo giảm tiếp. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa nông dân chào bán ít, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục chững giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện ở mức 5.800 - 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) đạt mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 14/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện ở mức 372 - 376 USD/tấn. Tương tự, giá gạo Jasmine hiện ở mức 454 - 458 USD/tấn. Đặc biệt, gạo thơm 5% tấm ở mức 454 - 460 USD/tấn.
Thị trường gạo châu Á đang bước vào giai đoạn “quan sát” sau khi xuất hiện thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần trong xung đột Trung Đông. Theo Platts, giá gạo trắng 5% tấm tại châu Á đến ngày 8/4 nhìn chung vẫn duy trì xu hướng ổn định nhưng phân hóa nhẹ giữa các quốc gia.
Tại Thái Lan ghi nhận mức cao nhất khoảng 395 USD/tấn (FOB), tăng so với tháng trước; Việt Nam đạt khoảng 365 USD/tấn, tiếp tục xu hướng nhích lên; trong khi Pakistan và Myanmar cũng ghi nhận mức tăng nhẹ. Ngược lại, Ấn Độ lại điều chỉnh giảm.
Điểm đáng chú ý là thị trường chưa phản ứng mạnh với thỏa thuận ngừng bắn. Các nhà xuất khẩu Thái Lan cho rằng, yếu tố này chưa đủ để thay đổi cán cân cung – cầu trong thời gian tới, khi nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường lớn vẫn duy trì ổn định.
Thay vào đó, biến động tỷ giá và chi phí logistics mới là yếu tố chi phối chính. Đồng baht tăng giá khiến giá FOB tính theo USD tại Thái Lan bị đẩy lên, dù giá nội địa không thay đổi. Cùng lúc, chi phí nhiên liệu và vận tải tiếp tục tạo áp lực lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu.
Ở góc độ nhu cầu, các nhà thương mại tại Ấn Độ cho biết thị trường vẫn chậm, dù kỳ vọng nhu cầu từ châu Phi có thể cải thiện trong thời gian tới. Tuy nhiên, xu hướng chung vẫn là thận trọng, khi chưa xuất hiện tín hiệu tăng mua rõ ràng từ các thị trường nhập khẩu lớn.
Một yếu tố được theo dõi sát là tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz. Dù chưa có gián đoạn thực tế, thị trường lo ngại chi phí vận tải và nhiên liệu có thể biến động trở lại nếu tình hình khu vực thay đổi. Một số thương nhân cho rằng ngay cả khi tuyến này ổn định, việc chuyển hướng vận tải và chi phí dầu vẫn sẽ ảnh hưởng kéo dài.
Tại Việt Nam, doanh nghiệp xuất khẩu nhận định tác động từ ngừng bắn là gián tiếp, chủ yếu thông qua chi phí logistics, trong khi nhu cầu nhập khẩu – đặc biệt từ Philippines – vẫn là yếu tố quyết định giá.