Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay duy trì ổn định. Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) Philippines lo ngại sản lượng có thể giảm 20 - 50% nếu không có biện pháp can thiệp khẩn cấp từ chính phủ.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 13/4/2026: Giá lúa gạo “đứng giá”, Philippines cảnh báo cú sốc nguồn cung |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn giao dịch chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo về lượng ít, giá gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 vẫn giữ ở mức 8.100 – 8.200 đồng/k, gạo nguyên liệu OM 5451 trong khoảng 8.650 – 8.750 đồng/kg; gao OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 13/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 13/4/2026 |
Phân khúc nếp đi ngang. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 hiện ở mức 7.600 - 7.750 đồng/kg; giá cám ở mức 6.850 – 7.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 13/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn về ít, giá biến động nhẹ. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác, giao dịch không nhiều, giá ổn định.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện ở mức 5.800 - 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) đạt mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 13/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam tăng 4 USD/tấn so với ngày hôm trước, lên mức 372 - 376 USD/tấn. Tương tự, giá gạo Jasmine hiện ở mức 454 - 458 USD/tấn. Đặc biệt, gạo thơm 5% tấm ở mức 454 - 460 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm hiện ở mức 380 – 384 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan dao động từ 349 - 353 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ ở mức 336 - 340 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm duy trì ở mức 346 - 350 USD/tấn.
Áp lực lương thực đang hiện rõ tại Philippines khi những bất ổn từ Trung Đông bắt đầu “ngấm” vào chi phí sản xuất nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp nước này cảnh báo sản lượng lúa gạo có thể giảm từ 20 - 50% nếu không có hỗ trợ kịp thời. Với quy mô hiện tại, mức giảm tối thiểu đã tương đương khoảng 2 triệu tấn, còn kịch bản xấu có thể làm hụt một nửa nguồn cung dự kiến cho giai đoạn cao điểm từ tháng 8 - 9.
Nút thắt lớn nhất nằm ở giá phân bón tăng vọt. Khi căng thẳng địa chính trị chưa hạ nhiệt, nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển tới 30% urê và 40% amoniac toàn cầu khiến chi phí đầu vào leo thang. Nông dân vì thế đứng trước lựa chọn khó, thu hẹp sản xuất hoặc chấp nhận rủi ro thua lỗ ngay từ đầu vụ gieo trồng tháng 5 - 6.
Cùng lúc, giá dầu duy trì mặt bằng cao, tăng khoảng 40% so với trước xung đột, tiếp tục đẩy chi phí vận chuyển và chế biến đi lên. Hệ quả đã phản ánh vào thị trường khi giá gạo nhập khẩu có thời điểm chạm 60 peso/kg, vượt xa ngưỡng hợp lý. Chính phủ buộc phải tính đến phương án áp trần 50 peso/kg nhằm kìm đà tăng.
Dù vậy, các biện pháp can thiệp hiện vẫn mang tính tình thế, gói hỗ trợ 10 tỷ peso được cho là chưa đủ để “giữ chân” người sản xuất trong bối cảnh chi phí đầu vào biến động mạnh. Khi sản xuất bị co hẹp còn giá cả leo thang, nguy cơ thiếu hụt không còn là cảnh báo xa mà đã trở thành sức ép hiện hữu đối với an ninh lương thực của quốc gia này.