Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Thị trường giao dịch mua bán cầm chừng.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 11/2/2026: Giá lúa gạo đứng giá, giao dịch cầm chừng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán chậm, giá các loại bình ổn. Tại An Giang, gạo về lượng ít, giao dịch mua bán cầm chừng.
Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo nguyên liệu thơm, OM5451, CL555 và các loại khác khác ít biến động. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán mới tiếp tục chậm, sức mua gạo chợ yếu, gạo các loại bình giá.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên IR 50404 duy trì ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.600 - 7.700 đồng/kg; IR 504 hiện dao động trong khoảng 8.000 – 8.100 đồng/kg; CL 555 hiện giao dịch ở mức 8.200 – 8.300 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; gạo OM 5451 ổn định trong khoảng 8.750 – 8.900 đồng/kg; gạo Sóc thơm hiện ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 hiện ở mức 8.600 - 8.750 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 11/2/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại chững lại. Cụ thể, gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 11/2/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Mặt hàng phụ phẩm đi ngang. Cụ thể, giá cám hiện ở mức 8.100 – 8.350 đồng/kg; giá tấm OM 5451 tiếp tục ổn định ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 11/2/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán yếu, giá lúa tươi vững. Tại An Giang, lúa Đông Xuân chào bán chủ yếu cắt sau tết, giao dịch ít, giá vững.
Tại Cần Thơ, giao dịch lúa vẫn chậm, nông dân chủ yếu chào bán lúa cắt sau tết, giá ít biến động. Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán chậm, giá ít biến động.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, thị trường lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 (tươi) dao động trong khoảng 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 ổn định ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; OM 5451 (tươi) xuống mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 4218 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; lúa Nàng nhen khô ở mức 20.000 đồng/kg; lúa Nàng Hoa dao động từ 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 11/2/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, gạo Việt Nam đứng giá so với phiên hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam vẫn dao động trong khoảng 440 – 444 USD/tấn, gạo trắng 5% tấm đạt 362 - 366 USD/tấn.
Tỷ lệ tự chủ lúa gạo (SSR) của Malaysia hiện chỉ đạt khoảng 52 - 52,9%, một con số gần như “đứng yên” trong nhiều năm và còn cách rất xa các mục tiêu mà chính phủ đặt ra: 75% vào năm 2025 và 80% vào năm 2030. Thực trạng này, theo Bộ trưởng Nông nghiệp và An ninh Lương thực Datuk Seri Mohamad Sabu, phản ánh rõ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc của ngành lúa gạo nước này.
Trước hết, diện tích trồng lúa bị thu hẹp do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất, trong khi việc mở rộng các vùng trồng mới diễn ra chậm chạp. Tại nhiều bang như Johor, Melaka, Negeri Sembilan hay Sabah và Sarawak, chi phí cải tạo đất cao, thời gian thu hồi vốn dài khiến doanh nghiệp và nông dân dè dặt đầu tư. Song song đó, năng suất lúa thấp và thiếu ổn định giữa các vùng tiếp tục kéo lùi khả năng tự chủ.
Một vấn đề then chốt khác là hạ tầng thủy lợi. Dù chính phủ đã rót khoảng 1 tỷ ringgit vào khu vực MADA, khoản đầu tư này mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ so với nhu cầu thực tế. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, thiếu nước và quản lý thủy lợi kém đang trực tiếp bào mòn năng suất.
Ngoài sản xuất, thị trường gạo cũng tồn tại bất cập kéo dài gần 20 năm, từ pha trộn, phân loại không đồng nhất đến nguy cơ gạo nhập khẩu giá rẻ “đội lốt” gạo nội địa. Chính phủ khẳng định sẽ siết chặt kiểm soát, ứng dụng công nghệ do MARDI phát triển, đồng thời bảo đảm mọi điều chỉnh chính sách không gây tổn hại tới nhóm thu nhập thấp, trong đó khoảng 15% dân số cần gạo giá khoảng 26 ringgit/10 kg.