Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận nhích tăng nhẹ, điều chỉnh phổ biến từ 50 - 200 đồng/kg với lúa, trong khi mặt bằng giá gạo trong nước vẫn duy trì trạng thái ổn định, ít biến động. Ở chiều xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam và Thái Lan đồng loạt tăng mạnh.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 3/4/2026: Giá lúa nhích nhẹ, gạo xuất khẩu bật tăng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 8.400 – 8.400 đồng/kg; gạo CL 555 hiện ở mức 7.950 – 8.050 đồng/kg; gạo OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 3/4/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại đi ngang so với hôm qua. Theo đó, giá gạo Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không ghi nhận điều chỉnh mơi. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 3/4/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 tăng 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 7.600 – 7.700 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám giảm 150 đồng/kg, về mức 6.850 – 7.050 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 3/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới ít, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Thu Đông giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình do giá gạo giảm tiếp. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, nông dân chào bán lai rai, giao dịch cầm chừng.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi OM 18 tăng 50 đồng/kg, lên mức 5.700 - 5.800 đồng/k, giá lúa IR 50404 (tươi) tăng 200 đồng/kg, đạt mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) tăng 100 đồng/kg, dao động từ 5.400 - 5.600 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa tươi Đài Thơm 8 hiện dao động ở mức 5.600 - 5.750 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 3/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan hôm nay điều chỉnh tăng 10 USD/tấn, lên mức 384 USD/tấn.
Tương tự, gạo trắng 5% tấm của Việt Nam cũng tăng 9 USD/tấn, đạt 361 - 365 USD/tấn; trong khi giá gạo Jasmine tăng 12 USD/tấn, dao động từ 431 - 435 USD/tấn. Ngược lại, gạo trắng 5% tấm của Pakistan giảm nhẹ 2 USD/tấn, xuống còn 344 - 348 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm được giao dịch quanh mức 335 - 339 USD/tấn, giảm 6 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm cũng giảm 3 USD/tấn, còn 344 - 348 USD/tấn.
Dữ liệu mới công bố từ Cơ quan Thống kê Philippines, bức tranh nguồn cung gạo của Philippines đang có những chuyển động đáng chú ý, qua đó cho thấy nỗ lực điều hành của Chính phủ trong bối cảnh áp lực an ninh lương thực gia tăng.
Tính đến đầu tháng 3, tổng lượng gạo tồn kho đạt 1,88 triệu tấn, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước. Động lực chính đến từ khu vực Nhà nước, khi lượng dự trữ tại Cơ quan Lương thực Quốc gia Philippines bật tăng mạnh gần 35%. Song song đó, tồn kho hộ gia đình và khu vực thương mại cũng duy trì đà tăng, nguồn cung trong nước được củng cố tương đối đồng đều giữa các khu vực.
Tuy nhiên, so với tháng trước, tổng tồn kho đã giảm hơn 11%, chủ yếu do khu vực thương mại sụt mạnh gần 29% khi giai đoạn thu hoạch cao điểm khép lại. Tương tự, tính mùa vụ rõ nét của thị trường, đồng thời đặt ra yêu cầu điều tiết linh hoạt hơn trong những tháng tới.
Ở góc độ cơ cấu, hộ gia đình tiếp tục là “trụ đỡ” khi nắm giữ gần một nửa tổng lượng gạo dự trữ, trong khi vai trò của khu vực Nhà nước vẫn mang tính điều tiết thị trường.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng lúa niên vụ 2026 - 2027 của Philippines chỉ tăng nhẹ 0,4%, dù được hỗ trợ bởi các Chương trình như RCEF và Chương trình Gạo Quốc gia. Rào cản lớn nhất vẫn là chi phí đầu vào leo thang và diện tích gieo trồng không mở rộng.
Đáng chú ý, nhập khẩu gạo được dự báo tăng gần 16%, lên 5,1 triệu tấn, Philippines vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung bên ngoài để bù đắp thiếu hụt trong nước, nhất là khi nhu cầu tiêu thụ tiếp tục tăng theo đà gia tăng dân số.