Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay biến động nhẹ, chỉ riêng gạo nguyên liệu OM 5451 nhích thêm khoảng 50 đồng/kg. Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) nhận định Philippines có thể đẩy mạnh nhập khẩu, với mức tăng ước gần 16% trong niên vụ 2026 - 2027.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 2/4/2026: Giá lúa gạo “lặng sóng”, OM 5451 nhích nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn không mua vào, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, đa số kho lớn ngừng mua, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo biến động nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 5451 tăng nhẹ 50 đồng/kg, lên mức 8.400 – 8.400 đồng/kg. Tuy nhiên, giá nguyên liệu CL 555 hiện ở mức 7.950 – 8.050 đồng/kg; gạo OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 hiện duy trì ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 2/4/2026 |
Tại các chợ dân sinh, giá gạo các loại không đổi so với hôm qua. Theo đó, giá gạo Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 2/4/2026 |
Phân khúc nếp không biến động. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 2/4/2026 |
Giá các loại phụ phẩm ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 tăng 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 7.600 – 7.700 đồng/kg. Tuy nhiên, giá cám giảm 150 đồng/kg, về mức 6.850 – 7.050 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn ít, giá chững. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác tập trung ở một số khu vực thu hoạch muộn, giá chững.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá ít biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện dao động ở mức 5.600 - 5.750 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; IR 50404 giữ ở mức 5.200 – 5.300 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.400 – 5.500 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 2/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan (TREA), giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan tiếp tục được chào bán ở mức 372 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước.
Tại Việt Nam, gạo trắng 5% tấm cũng duy trì ổn định ở mức 352 - 356 USD/tấn, trong khi giá gạo Jasmine dao động từ 419 – 423 USD/tấn. Tuonwg tự, tại Pakistan, hiện gạo trắng 5% tấm đang được giao dịch trong khoảng 346 - 350 USD/tấn. Còn tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm được giao dịch quanh mức 341 – 345 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 347 – 351 USD/tấn.
Triển vọng thị trường gạo khu vực đang nóng lên khi Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo Philippines có thể nâng nhập khẩu lên mức kỷ lục 5,1 triệu tấn trong niên vụ 2026–2027, tăng gần 16% so với mức 4,4 triệu tấn của niên vụ hiện tại.
Theo USDA, lượng dự trữ gạo của Philippines đã giảm còn 2,9 triệu tấn, thấp hơn năm trước, buộc Chính phủ phải chủ động tái tích trữ thông qua cả nguồn cung nội địa lẫn nhập khẩu. Trong khi đó, tiêu thụ gạo dự kiến đạt 17,65 triệu tấn, tăng nhẹ nhưng vẫn duy trì ở mức cao do áp lực dân số. Đây là yếu tố cốt lõi khiến quốc gia này ngày càng phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài.
Dù sản lượng trong nước được dự báo nhích lên 19,68 triệu tấn nhờ thời tiết thuận lợi và chính sách hỗ trợ, mức tăng này không đủ bù đắp nhu cầu. Đáng chú ý, chi phí đầu vào – đặc biệt là phân bón – đang chịu tác động từ căng thẳng Trung Đông, làm thu hẹp biên lợi nhuận của nông dân và kìm hãm đà mở rộng sản xuất.
Về chính sách, Philippines đang thử nghiệm cơ chế thuế nhập khẩu linh hoạt trong biên độ 15–35%, gắn với giá gạo 5% tấm từ Việt Nam – nguồn cung chiếm tới 84% tổng lượng nhập khẩu hiện nay. Cơ chế này nhằm ổn định giá bán lẻ, song cũng làm dấy lên lo ngại về nguy cơ đầu cơ và găm hàng khi thị trường phản ứng với biến động giá quốc tế.
Thực tế, dù Chính phủ kêu gọi kiểm soát nhập khẩu, số liệu từ Cục Công nghiệp Thực vật Philippines (BPI) cho thấy trong 4 tháng đầu năm, nước này đã nhập tới 1,17 triệu tấn gạo, vượt kế hoạch khoảng 30%.