Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tiếp tục giảm với gạo. Thị trường giao dịch mua bán vẫn chậm.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 10/1/2026: Giá gạo tiếp đà giảm, giao dịch chậm trong khi giá cám tăng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán vẫn chậm, giá tương đối ổn định. Tại An Giang, nguồn gạo về ít, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại bình ổn.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng về khá hơn, gạo các loại ít biến động. Tại An Cư - Đồng Tháp, nhu cầu yếu, gạo các loại bình ổn.
Giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục xu giảm, trong khi giá cám lại duy trì đà tăng từ đầu tuần. Cụ thể, Tương tự, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 tiếp tục giảm 150 đồng/kg, xuống còn 8.600 – 8.750 đồng/kg; gạo IR 504 giảm 50 đồng/kg so với ngày hôm trước, xuống còn 7.600 – 7.750 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo CL 555 hiện ở mức 7.600 – 7.800 đồng/kg; Sóc thơm hiện ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; OM 5451 hiện duy trì ở mức 8.150 – 8.300 đồng/kg; gạo nguyện liệu OM 380 hiện ở mức 7.200 – 7.300 đồng/kg; OM 18 hiện ở mức 8.400 - 8.600 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 10/1/2026 |
Tại các chợ dân sinh, mặt hàng gạo các loại duy trì ổn định. Cụ thể, gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg; gạo thường hiện ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen hiên ở mức cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 - 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 10/1/2026 |
Phân khúc nếp không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 (khô) ở mức 9.500 - 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 10/1/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm tiếp đà tăng so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám tăng thêm 150 đồng/kg, lên 7.250 – 7.450 đồng/kg. Tuy nhiên, giá tấm thơm duy trì ở mức 7.600 – 7.700 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn lúa Đông Xuân giao dịch ít, giá vững. Tại Cà Mau, giao dịch chủ yếu lúa ST, nguồn còn rải rác, bạn hàng trả giá thấp.
Tại Đồng Tháp, giao dịch chậm, nguồn chào bán ít, giá lúa vững. Tại Cần Thơ, nguồn lúa Đông Xuân chào bán khá tại các Đồng Phú Long, Trần Đề, giao dịch mua bán ít, giá vững. Tại An Giang, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, giá lúa các loại ổn định.
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay giữ bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá OM 5451 (tươi) trong khoảng 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg; lúa OM 18 (tươi) và Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa giá lúa tươi OM 4218 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 10/1/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Thị trường gạo xuất khẩu châu Á tuần này ghi nhận trạng thái trầm lắng, phản ánh rõ sự giằng co giữa mặt bằng giá cao và nhu cầu tiêu thụ suy yếu.
Theo Reuters, giá gạo của Ấn Độ và Việt Nam tiếp tục đi ngang, trong khi gạo Thái Lan giảm mạnh xuống mức thấp nhất trong 5 tuần do lực mua yếu.
Tại Ấn Độ, gạo đồ và gạo trắng 5% tấm giữ ổn định quanh vùng 350 - 360 USD/tấn, tiệm cận mức cao nhất trong ba tháng. Tuy nhiên, giá cao lại trở thành rào cản giao dịch. Người mua có xu hướng chờ đợi mức giá thấp hơn, trong khi người bán chịu áp lực chi phí do đồng rupee tăng giá, khiến thị trường rơi vào trạng thái “đứng hình”, giao dịch thưa thớt.
Tương tự tại Việt Nam, gạo 5% tấm được chào bán ổn định ở mức 360 - 365 USD/tấn, song nhu cầu từ các thị trường chủ lực như Philippines và Indonesia có dấu hiệu chững lại. Bên cạnh đó, triển vọng nguồn cung gia tăng từ Ấn Độ càng khiến các nhà nhập khẩu dè dặt, chỉ mua vào khi giá giảm sâu. Điều này phần nào lý giải việc xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2025 sụt giảm mạnh cả về lượng lẫn giá trị.
Trong khi đó, Thái Lan trở thành điểm giảm giá rõ nét nhất khu vực. Gạo 5% tấm rơi xuống 385 USD/tấn, thấp nhất trong 5 tuần, do nhu cầu trầm lắng kéo dài từ đầu năm và tâm lý chờ đợi động thái đấu giá từ Ấn Độ.
Ở chiều ngược lại, Myanmar nổi lên như điểm sáng nguồn cung khi xuất khẩu tăng mạnh cuối năm 2025, trong bối cảnh áp lực dư cung trong khu vực vẫn còn lớn. Bangladesh đẩy mạnh nhập khẩu để bình ổn giá nội địa càng cho thấy thị trường gạo châu Á đang bước vào giai đoạn thận trọng, nơi người mua nắm ưu thế và giá khó bật tăng trong ngắn hạn.