Việc siết nhập khẩu điện thoại, máy tính và nhiều thiết bị công nghệ số đã qua sử dụng đang thu hút sự quan tâm của những doanh nghiệp kinh doanh hàng điện tử và lĩnh vực xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, theo Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN), quy định mới không nhằm hạn chế nguồn thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất, nghiên cứu mà hướng đến kiểm soát chất lượng hàng hóa đưa vào thị trường tiêu dùng.
Tại họp báo thường kỳ ngày 4/11, ông Nguyễn Khắc Lịch - Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (Bộ KH&CN), đã làm rõ mục tiêu quản lý cũng như những trường hợp doanh nghiệp vẫn được phép nhập khẩu thiết bị công nghệ đã qua sử dụng.
Kiểm soát hàng công nghệ cũ, bảo vệ thị trường trong nước
Theo Bộ KH&CN, việc ban hành danh mục sản phẩm công nghệ số đã qua sử dụng cấm nhập khẩu nhằm chuẩn hóa, đồng bộ hệ thống pháp luật về công nghiệp công nghệ số và quản lý ngoại thương. Danh mục mới được cập nhật theo hệ thống mã số hàng hóa (mã HS), tạo cơ sở thống nhất cho hoạt động phân loại, kiểm tra và quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu.
![]() |
| Ông Nguyễn Khắc Lịch - Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo. |
Một mục tiêu quan trọng khác là bảo vệ người tiêu dùng trước nguy cơ thiết bị điện tử cũ, chất lượng thấp được đưa vào thị trường với số lượng lớn.
Sau thời gian sử dụng, nhiều sản phẩm có thể xuống cấp, hư hỏng hoặc không còn đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Nếu tiếp tục được nhập khẩu tràn lan, những thiết bị này có nguy cơ trở thành rác thải điện tử, gia tăng áp lực xử lý môi trường.
Bên cạnh đó, thiết bị công nghệ đã qua sử dụng còn tiềm ẩn rủi ro về an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu. Một số sản phẩm xuống cấp có thể phát sinh nguy cơ mất an toàn trong quá trình vận hành.
Vì vậy, chính sách không chỉ hướng đến kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu mà còn góp phần hạn chế nguy cơ Việt Nam trở thành thị trường tiếp nhận thiết bị công nghệ lạc hậu từ nước ngoài.
Doanh nghiệp sản xuất chip vẫn có cơ chế nhập thiết bị cũ
Điểm đáng chú ý trong quy định mới là việc phân định rõ hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu với máy móc, thiết bị đã qua sử dụng phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất và nghiên cứu.
Theo Điều 2 Thông tư 63/2026/TT-BKHCN, dây chuyền công nghệ, máy móc, thiết bị và công cụ đã qua sử dụng đáp ứng tiêu chí theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số, phục vụ trực tiếp dự án sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm vi mạch bán dẫn hoặc hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số không thuộc danh mục cấm nhập khẩu.
![]() |
| Bên cạnh danh mục sản phẩm cấm nhập khẩu, quy định vẫn có những trường hợp ngoại lệ, cho phép nhập khẩu thiết bị công nghệ số đã qua sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất, nghiên cứu và các mục đích được pháp luật cho phép - Ảnh minh họa: https://intechvietnam.com |
Cơ chế này có ý nghĩa đối với doanh nghiệp công nghệ, nhất là những đơn vị cần đầu tư hệ thống máy móc chuyên dụng với chi phí lớn.
Thay vì phải thay mới toàn bộ thiết bị, doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn máy móc đã qua sử dụng nếu đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện pháp luật. Điều này giúp tối ưu chi phí đầu tư ban đầu, đồng thời duy trì khả năng tiếp cận thiết bị phục vụ sản xuất và phát triển công nghệ.
Trên thực tế, cơ chế quản lý đối với nhóm thiết bị này đã được quy định tại Thông tư 30/2025/TT-BKHCN của Bộ KH&CN.
Theo đó, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng phục vụ sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn phải đáp ứng các yêu cầu về công nghệ, an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Đáng chú ý, công suất hoặc hiệu suất còn lại phải đạt tối thiểu 85% so với thiết kế, trong khi mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu và năng lượng không vượt quá 15% so với thiết kế.
Đối với máy móc, thiết bị và công cụ đã qua sử dụng, tuổi thiết bị thông thường không vượt quá 20 năm tính từ năm sản xuất đến năm nhập khẩu. Riêng thiết bị phục vụ đào tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số được áp dụng ngoại lệ đối với tiêu chí về tuổi thiết bị theo quy định.
Như vậy, việc cho phép nhập khẩu thiết bị cũ không phải là cơ chế mở rộng tùy ý. Doanh nghiệp vẫn phải chứng minh thiết bị đáp ứng điều kiện về mục đích sử dụng, công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Mã HS trở thành căn cứ quan trọng khi làm thủ tục nhập khẩu
Một vấn đề doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là phạm vi điều chỉnh của Thông tư 63 không chỉ dừng ở điện thoại thông minh và máy tính.
Danh mục kèm theo văn bản còn bao gồm nhiều nhóm thiết bị công nghệ số, bộ phận, phụ kiện, cụm linh kiện và linh kiện điện tử đã qua sử dụng thuộc các sản phẩm trong danh mục cấm.
Đáng chú ý, sản phẩm công nghệ số tân trang, dù đã được sửa chữa hoặc thay thế linh kiện để khôi phục chức năng, chất lượng và hình thức tương đương hàng mới, vẫn thuộc diện cấm nếu có mã HS nằm trong danh mục.
Thông tư cũng quy định nguyên tắc áp dụng theo cấp độ mã HS. Nếu danh mục xác định đến nhóm 4 chữ số hoặc phân nhóm 6 chữ số, lệnh cấm áp dụng đối với toàn bộ mã HS 8 chữ số tương ứng. Trường hợp quy định cụ thể đến mã HS 8 chữ số, phạm vi cấm chỉ áp dụng với mã hàng đó.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải rà soát kỹ mã hàng, đặc tính sản phẩm và tình trạng sử dụng trước khi ký hợp đồng hoặc triển khai thủ tục thông quan. Việc chỉ căn cứ vào tên thương mại hoặc hình thức bên ngoài của thiết bị có thể dẫn đến nhầm lẫn khi xác định chính sách nhập khẩu.
Đối với hàng hóa đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập khẩu trước ngày 1/1/2027, Thông tư 63 cũng có điều khoản chuyển tiếp, cho phép tiếp tục thực hiện theo nội dung và thời hạn hiệu lực của văn bản đã được cấp.
Thông tư 63/2026/TT-BKHCN được ban hành ngày 27/10/2026, có hiệu lực từ 1/1/2027, thay thế Thông tư 11/2018/TT-BTTTT.
Với doanh nghiệp, việc chuẩn bị sớm danh mục hàng hóa, rà soát mã HS và xác định đúng mục đích sử dụng sẽ giúp hạn chế rủi ro khi chính sách mới được áp dụng. Về dài hạn, quy định này hướng đến kiểm soát chất lượng hàng công nghệ nhập khẩu nhưng vẫn duy trì nguồn thiết bị cần thiết cho hoạt động sản xuất, nghiên cứu và phát triển công nghệ trong nước.
