Thứ hai 27/04/2026 08:24
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Doanh nghiệp và chỉ số sẵn sàng tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

12/10/2020 00:00
Áp dụng chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp xác định thời điểm bắt đầu, cách thức mở rộng quy mô của doanh nghiệp và xây dựng chiến lược, kế hoạch để doanh nghiệp duy trì tăng trưởng.

Có ba “hiện tượng” dễ dàng nhận thấy trong bối cảnh các doanh nghiệp tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (hay còn gọi là Cách mạng công nghiệp 4.0) là: Thứ nhất, doanh nghiệp ý thức được Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ chuyển đổi sản xuất; thứ hai, số lượng các doanh nghiệp tiếp cận, áp dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng tăng; thứ ba, Cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn được doanh nghiệp xem là một vấn đề mới, nhiều “bí ẩn”. Chính vì vậy, cần áp dụng chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp xác định thời điểm bắt đầu, cách thức mở rộng quy mô của doanh nghiệp và xây dựng chiến lược, kế hoạch để doanh nghiệp duy trì tăng trưởng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.

Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu thực hiện nghi thức công bố kết nối Mạng lưới sáng tạo Việt Nam năm 2018. (Ảnh: TTXVN)

Doanh nghiệp tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cách mạng công nghiệp 4.0 hình thành một môi trường “siêu kết nối” và thông minh, vượt ra khỏi phạm vi của khu vực sản xuất. Trong đó, quá trình tự động hóa và các hoạt động tương tác không chỉ xảy ra trong hoạt động sản xuất của nhà máy, mà diễn ra dọc theo chuỗi giá trị (gồm: nhà cung cấp, nhà vận chuyển, nhà bán lẻ, khách hàng…) trong suốt toàn bộ vòng đời sản phẩm.

Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy các nhà máy sản xuất chuyển đổi sang mô hình nhà máy thông minh, cho phép thực hiện các giao tiếp từ máy tới máy (M2M) dựa trên nền tảng In-tơ-nét vạn vật (IoT) nhằm mục tiêu tăng khả năng tự động hóa, cải thiện hoạt động kết nối, giao tiếp và giám sát quá trình sản xuất trong nhà máy. Bên cạnh đó, các nhà máy thông minh hỗ trợ thực hiện các cấp độ “tự chẩn đoán”và phân tích để tối ưu hóa hiệu quả, nâng cao khả năng tích hợp chuỗi giá trị và tăng cường mức độ “thông minh” của hệ thống sản xuất. Như vậy, có thể thấy rằng, nhà máy thông minh là một trong những phương thức tiếp cận mới của doanh nghiệp đối với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, mô hình chuyển đổi sang nhà máy thông minh sẽ có các chức năng và mục tiêu mới, như quản lý chất lượng “thế hệ mới”, bao gồm kiểm soát theo mô hình khép kín, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm; tích hợp con người, quy trình và công nghệ theo chuỗi giá trị, thúc đẩy năng suất lên “một tầm cao mới”; rút ngắn chu kỳ đổi mới sản phẩm đối với các sản phẩm “phức tạp”, rút ngắn “thời gian thu lợi nhuận” từ sản phẩm; hệ thống sản xuất linh hoạt theo chuỗi giá trị cho phép nhà máy thông minh thực hiện sản xuất hàng loạt hoặc sản xuất riêng lẻ tùy theo điều kiện thay đổi của thị trường và người tiêu dùng.

Nhà máy thông minh sẽ có sự tương tác mạnh mẽ với các bên có liên quan như nhà cung cấp công nghệ, cơ quan chính phủ, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, trường đại học… Do đó, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng mô hình để giúp các doanh nghiệp tại các quốc gia chuyển đổi sang mô hình nhà máy thông minh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 là hết sức cần thiết. Cụ thể, để thực hiện chuyển đổi, trước hết, các doanh nghiệp cần được đào tạo những kiến thức cơ bản về Cách mạng công nghiệp 4.0, nhà máy thông minh, các công nghệ mới (IoT, dữ liệu lớn, mô phỏng…). Trên cơ sở đó, cần đánh giá hiện trạng của doanh nghiệp đối với khả năng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 theo các tiêu chí cụ thể. Căn cứ vào khả năng cân đối nguồn lực, tính toán “khoảng trống” của doanh nghiệp giữa hiện tại và mục tiêu tương lai…; xây dựng lộ trình, kế hoạch tiếp cận, áp dụng các công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0.

Bên cạnh đó, cần đánh giá tác động của hiệu quả kinh doanh lên mô hình sản xuất của doanh nghiệp, trên cơ sở đó, chỉ định các nhà cung cấp giải pháp để tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Đồng thời, doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư tăng cường trang thiết bị, công nghệ mới của Cách mạng công nghiệp 4.0… bảo đảm quá trình vận hành sản xuất an toàn, đáp ứng mục tiêu hiệu suất và chất lượng, qua nó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Cách mạng công nghiệp 4.0 là chủ đề được các quốc gia trên thế giới quan tâm. Các doanh nghiệp cũng coi Cách mạng công nghiệp 4.0 là đòn bẩy để tăng cường tổ chức, năng suất và hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả.

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận, áp dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 không đồng đều giữa các ngành và doanh nghiệp khác nhau. Do đó, Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 đã được phát triển để giải quyết những thách thức này. Hiện nay, trên thế giới, có khá nhiều các chỉ số đánh giá khả năng sẵn sàng với Cách mạng công nghiệp 4.0. Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 được xây dựng dựa trên Mô hình kiến ​​trúc tham khảo cho ngành Cách mạng công nghiệp 4.0 (Reference Architectural Model for Industry 4.0, RAMI 4.0) được phát triển bởi Platform Industrie 4.0. RAMI 4.0. Ngoài ra, các nghiên cứu khác cũng mô tả về mô hình công nghiệp 4.0, bao gồm chỉ số trưởng thành của doanh nghiệp 4.0 (Industrie 4.0 Maturity Index) được phát triển bởi Viện Khoa học và Kỹ thuật Đức (German Academy of Science and Engineering, acatech); mô hình Bersin để phát triển vốn nhân lực của Deloitte...

Các trụ cột xác định chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của doanh nghiệp

Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 được xác định dựa trên ba trụ cột cốt lõi và tám trụ cột chính. Ba trụ cột cốt lõi trong Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0, gồm trụ cột cốt lõi về công nghệ, về quá trình và về tổ chức. Ba trụ cột cốt lõi này được áp dụng để đánh giá cho bất kỳ doanh nghiệp nào nhằm xem xét khả năng sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0, khả năng chuyển đổi thành mô hình nhà máy thông minh trong tương lai. Nền tảng của ba trụ cột cốt lõi là tám trụ cột chính, đại diện cho các vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp phải quan tâm, cải thiện để nâng cao khả năng sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp.

Trụ cột cốt lõi về công nghệ

Công nghệ là yếu tố quan trọng trong Cách mạng công nghiệp 4.0. Các công nghệ kỹ thuật số mới đang tạo ra một ngành công nghiệp “siêu kết nối”, nơi các máy móc, thiết bị sản xuất được tích hợp với các hệ thống kinh doanh, qua đó cho phép thực hiện hoạt động trao đổi, phân tích dữ liệu một cách liên tục theo thời gian thực. Hệ thống thực - ảo hỗ trợ cho các nhà máy thông minh sản xuất nhanh hơn, linh hoạt hơn và “thông minh” hơn.

Để hiện thực hóa Cách mạng công nghiệp 4.0, dựa trên nền tảng sản xuất hiện tại, các doanh nghiệp cần tiếp tục áp dụng các công nghệ mới để tăng cường mức độ kết nối, tự động hóa và “thông minh” hơn. Nhằm cụ thể hóa vấn đề này, trụ cột cốt lõi công nghệ có thể được chia thành ba trụ cột chính là: trụ cột về tự động hóa, trụ cột về kết nối và trụ cột về thông minh.

Trụ cột về tự động hóa (thông qua hoạt động ứng dụng công nghệ để giám sát, kiểm soát quá trình sản xuất, phân phối các sản phẩm và dịch vụ) là một đặc điểm nổi bật của Cách mạng công nghiệp 3.0. Tự động hóa không chỉ giải phóng việc thực hiện các nhiệm vụ “lặp đi lặp lại” của người lao động, mà còn tăng cường tốc độ, chất lượng, hiệu quả và tính nhất quán của quá trình sản xuất.

Trụ cột về kết nối là đo tình trạng liên kết “theo thời gian thực” giữa các thiết bị, máy móc và hệ thống sản xuất dựa trên nền tảng máy tính và công nghệ thông tin, qua đó cho phép thực hiện các hoạt động giao tiếp và trao đổi dữ liệu giữa các máy móc trong quy trình sản xuất.

Trụ cột về thông minh là việc xử lý và phân tích dựa trên nền tảng dữ liệu trong khi trụ cột về tự động hóa cung cấp nền tảng hạ tầng “cứng” cho Cách mạng công nghiệp 4.0; trụ cột về kết nối hoạt động như “hệ thống thần kinh trung ương”, trụ cột về thông minh sẽ trở thành “bộ não” cung cấp năng lượng để doanh nghiệp có thể tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 này.

Trụ cột cốt lõi về quá trình

Trước đây, doanh nghiệp tập trung cải thiện hiệu quả của các quy trình riêng lẻ. Doanh nghiệp đã sử dụng các cải tiến quy trình để giảm chi phí, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Hiện nay, khái niệm cải tiến quy trình được mở rộng, trong đó tập trung vào việc tích hợp các quy trình trong một mô hình điều hành, một chuỗi cung ứng hoặc một vòng đời sản phẩm. Điều này bắt nguồn từ đặc điểm mới về tính kết nối, thông minh giữa các bộ phận, quy trình trong doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.

Trụ cột về điều hành, bao gồm việc lập kế hoạch và thực hiện các quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Mục tiêu cuối cùng là chuyển đổi các nguyên liệu thô và lao động thành sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất.

Trụ cột về chuỗi cung ứng, quản lý chuỗi cung ứng, bao gồm việc lập kế hoạch và quản lý nguyên liệu thô, hàng tồn kho của một doanh nghiệp, từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ trong chuỗi cung ứng. Các mô hình chuỗi cung ứng truyền thống sẽ được số hóa. Các quá trình trong chuỗi cung ứng sẽ được kết nối thông qua hệ thống mạng cảm biến; được quản lý thông qua một trung tâm dữ liệu trung tâm; được phân tích thông qua các công nghệ mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Việc số hóa các chuỗi cung ứng cũng sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, hàng tồn kho, giảm chi phí hoạt động của doanh nghiệp, qua đó mang lại lợi ích cho tất cả đối tượng trong chuỗi cung ứng.

Trụ cột về vòng đời sản phẩm đề cập đến chuỗi các giai đoạn mà sản phẩm trải qua từ giai đoạn ban đầu đến giai đoạn cuối cùng, bị “loại bỏ” khỏi thị trường. Các giai đoạn này, bao gồm từ thiết kế kỹ thuật, sản xuất, sử dụng, cung ứng dịch vụ và xử lý yêu cầu của khách hàng... Những tiến bộ trong kỹ thuật số đã tích hợp các yếu tố quan trọng, như dữ liệu, quy trình, hệ thống kinh doanh, con người… để tạo thành một “xương sống” thông tin thống nhất trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể quản lý trực tiếp vòng đời sản phẩm thông qua công nghệ kỹ thuật số.

Trụ cột cốt lõi về tổ chức

Tổ chức là trụ cột cốt lõi thứ ba được sử dụng để đánh giá mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp trong việc tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Thường bị đánh giá thấp hơn, tuy nhiên, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, trụ cột cốt lõi về tổ chức lại đóng vai trò quan trọng không kém bên cạnh trụ cột cốt lõi về công nghệ và trụ cột cốt lõi về quá trình. Để duy trì sự phát triển trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng, doanh nghiệp phải điều chỉnh cơ cấu tổ chức và quy trình, qua đó cho phép người lao động được trang bị các kỹ năng cần thiết để “theo kịp” tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Để một doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược Cách mạng công nghiệp 4.0 một cách hiệu quả, dưới góc độ trụ cột cốt lõi về tổ chức, các cải tiến cần được thực hiện đồng thời với hai trụ cột: trụ cột về sự sẵn sàng nhân lực và trụ cột cấu trúc và quản lý.

Trụ cột về sự sẵn sàng nhân lực hay nói cách khác là khả năng của nguồn nhân lực sẽ là yếu tố chính để thúc đẩy và cung cấp các sáng kiến tiếp cận ​​ Cách mạng công nghiệp 4.0.

Trụ cột về cấu trúc và quản lý: cấu trúc là hệ thống các quy tắc và chính sách rõ ràng, trong đó nêu rõ vai trò, trách nhiệm được phân công, kiểm soát và phối hợp. Cấu trúc ảnh hưởng đến cách các nhóm hành động và tương tác và cách thực hiện nhiệm vụ ​​để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.

Nhà máy sản xuất ôtô VinFast (Tập đoàn Vingroup) được xây dựng dựa trên nhiều công nghệ 4.0, tốc độ sản xuất 38 xe/giờ. (Ảnh: TTXVN)

Sử dụng chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong doanh nghiệp

Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp xác định thời điểm bắt đầu, cách thức mở rộng quy mô của doanh nghiệp và xây dựng chiến lược, kế hoạch để doanh nghiệp duy trì tăng trưởng. Tiếp cận chỉ số sẵn sàng sẽ giúp doanh nghiệp tìm hiểu các khái niệm quan trọng và xây dựng một ngôn ngữ chung để điều chỉnh, tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0; đánh giá hiện trạng của doanh nghiệp và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp; xây dựng một chiến lược, kế hoạch tiếp cận, chuyển đổi toàn diện và lộ trình thực hiện, cụ thể:

Giúp doanh nghiệp tìm hiểu các khái niệm quan trọng và xây dựng một ngôn ngữ chung để điều chỉnh, tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0

Sự hiểu biết thấu đáo về các khái niệm quan trọng của Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ cung cấp cho các doanh nghiệp một nền tảng vững chắc thực hiện việc chuyển đổi để điều chỉnh, tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Chỉ số sẵn sàng tiếp cận nhằm mục đích giúp doanh nghiệp củng cố kiến ​​thức về Cách mạng công nghiệp 4.0 theo hai cách.

Thứ nhất, kiểm tra sự am hiểu của doanh nghiệp về các khái niệm cốt lõi và các nguyên tắc cơ bản của Cách mạng công nghiệp 4.0 thông qua ba trụ cột cốt lõi, tám trụ cột chính về Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Qua đó, Chỉ số sẵn sàng tiếp cận giúp doanh nghiệp trang bị kiến ​​thức về các nguyên tắc, khái niệm và công nghệ chính; tổng quan về lợi ích và giá trị kinh doanh mà Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể mang lại cho doanh nghiệp; hướng dẫn doanh nghiệp xác định mục tiêu ngắn hạn, dài hạn, cách thức, lộ trình tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 theo hiện trạng và tiềm lực của doanh nghiệp.

Thứ hai, Chỉ số sẵn sàng tiếp cận nhằm mục đích thiết lập một ngôn ngữ chung giữa các bên liên quan trong hệ sinh thái chuyển đổi Cách mạng công nghiệp 4.0. Bằng cách cung cấp cho các doanh nghiệp một bộ thuật ngữ, định nghĩa và tiêu chuẩn hóa thống nhất, Chỉ số sẵn sàng tiếp cận thiết lập sự hiểu biết chung giữa các doanh nghiệp. Điều này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các bên liên quan thực hiện giao tiếp hiệu quả hơn bên trong và ngoài tổ chức (với đối tác, khách hàng…). Ngôn ngữ chung cũng giúp các nhà cung cấp giải pháp, công nghệ tương tác hiệu quả hơn với các nhà sản xuất, qua đó xác định các “khoảng trống”, các ưu tiên và lộ trình chuyển đổi toàn diện của doanh nghiệp.

Đánh giá hiện trạng của doanh nghiệp và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0

Tìm hiểu các khái niệm quan trọng về Cách mạng công nghiệp 4.0 là bước đầu tiên và thiết yếu. Tuy nhiên, điều này sẽ không giúp doanh nghiệp có thể đưa ra các chiến lược chuyển đổi hiệu quả để tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Doanh nghiệp phải xác định hiện đang ở đâu trước khi xác định sẽ làm những gì và làm thế nào để tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Do đó, để giúp các doanh nghiệp tiến hành đánh giá toàn diện về hiện trạng cần xác định ba vấn đề sau:

Đánh giá cái gì? Doanh nghiệp cần xác định phạm vi đánh giá và có thể chọn đánh giá toàn bộ cơ sở sản xuất hoặc đánh giá theo từng mô-đun, bộ phận độc lập của doanh nghiệp. Việc đánh giá theo từng mô-đun, bộ phận độc lập đặc biệt phù hợp với doanh nghiệp có quy mô lớn, sở hữu nhiều nhóm sản phẩm, trong đó, mỗi nhóm có thể khác nhau hoặc có quy trình riêng biệt. Tuy nhiên, sau khi đánh giá theo từng mô-đun, bộ phận độc lập, doanh nghiệp cần đánh giá toàn bộ cơ sở sản xuất của doanh nghiệp.

Ai đánh giá? Sau khi xác định phạm vi đánh giá, doanh nghiệp cần xác định các bên liên quan sẽ tham gia. Doanh nghiệp cần thành lập một nhóm (tổ) chuyên trách gồm các bên liên quan tham gia đánh giá để bảo đảm tính chất toàn diện của Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0.

Phương thức đánh giá? Qua quá trình đánh giá, doanh nghiệp sẽ thấy rằng, đối với các tham số nhất định, hiện trạng của doanh nghiệp sẽ khó có thể được thể hiện đầy đủ trong một mức độ. Trong những trường hợp như vậy, các chuyên gia tư vấn sẽ trao đổi, thảo luận với doanh nghiệp để đưa ra quyết định cuối cùng.

Tầm quan trọng và mức độ phù hợp của các trụ cột sẽ khác nhau, phụ thuộc vào từng nhu cầu và nguồn lực đầu tư của mỗi doanh nghiệp để tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Trong quá trình đánh giá, các trụ cột ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ số hiệu suất đánh giá chung (KPI) sẽ được ưu tiên cao hơn.

Xây dựng một chiến lược, kế hoạch tiếp cận, chuyển đổi toàn diện

Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 bảo đảm rằng tất cả các trụ cột cốt lõi, trụ cột chính và tham số của doanh nghiệp được xem xét, đánh giá. Trong đó, tầm quan trọng của mỗi tham số có thể khác nhau một cách tương đối. Do đó, doanh nghiệp cần đánh giá tất cả các tham số để bảo đảm rằng tất cả các chỉ số KPI của doanh nghiệp sẽ được tính toán, xem xét cụ thể.

Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng phạm vi các ý tưởng, sáng kiến ​​chuyển đổi hiện tại hoặc trong tương lai. Bằng cách cung cấp các định nghĩa và mô tả rõ ràng về các mức độ chuẩn đối với 16 tham số, Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 xác định rõ mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp được cung cấp các hướng dẫn thực tế để đi đến mục tiêu này. Chỉ số sẵn sàng tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 hướng dẫn cải tiến từng bước, “phá vỡ giai đoạn trung gian, quá độ” của hành trình chuyển đổi. Bên cạnh đó, Chỉ số sẵn sàng tiếp cận cũng cho phép các doanh nghiệp xác định một cách có hệ thống các sáng kiến ​ và cơ cấu các kế hoạch thực hiện với các giai đoạn, mốc thời gian và mục tiêu rõ ràng.

Sau khi xây dựng sáng kiến ​​chuyển đổi để tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0, doanh nghiệp cần có kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, hệ thống và quy trình phù hợp với chiến lược. Đồng thời, doanh nghiệp cần xác định các giải pháp tối ưu để đạt được các mục tiêu, kết quả theo từng giai đoạn ​​khác nhau trong chiến lược. Các chiến lược chuyển đổi, tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0 cần phải thích ứng và phát triển liên tục cùng với sự phát triển của doanh nghiệp. Do đó, các nhóm chuyên trách của doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc theo dõi tiến trình, đánh giá tác động và xác định các cơ hội cải tiến trong tương lai.

TS. HÀ MINH HIỆP - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục TCĐLCL

Tin bài khác
Làm sạch pháp lý đất đai, mở đường cho dự án bất động sản hồi sinh

Làm sạch pháp lý đất đai, mở đường cho dự án bất động sản hồi sinh

Việc đẩy mạnh làm sạch các vướng mắc đất đai và dự án bất động sản kéo dài nhiều năm đang tạo kỳ vọng mới cho thị trường. Khi pháp lý được tháo gỡ, doanh nghiệp có cơ hội tái khởi động dự án, phục hồi dòng tiền, trong khi nguồn cung hợp pháp cũng có thể được cải thiện rõ rệt.
Dòng vốn ngoại “chọn lọc” quay lại bất động sản, chiếm 7,2% tổng vốn giải ngân

Dòng vốn ngoại “chọn lọc” quay lại bất động sản, chiếm 7,2% tổng vốn giải ngân

Sau giai đoạn chững lại đầu năm do yếu tố mùa vụ, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực bất động sản đã ghi nhận tín hiệu cải thiện trong quý I/2026. Dù tỷ trọng chưa lớn, xu hướng giải ngân cho thấy nhà đầu tư ngoại đang quay lại thị trường với chiến lược thận trọng và chọn lọc hơn.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Tạo đột phá để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Tạo đột phá để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Yêu cầu đổi mới tư duy, tái cấu trúc toàn diện ngành văn hóa, thể thao và du lịch, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh cần những giải pháp đột phá nhằm nâng cao sức cạnh tranh, thu hút mạnh khách quốc tế, đưa du lịch thực sự trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế.
Giải ngân vốn đầu tư công 4 tháng đầu năm đạt 12,6%: Nhiều bộ, địa phương “chậm chân”

Giải ngân vốn đầu tư công 4 tháng đầu năm đạt 12,6%: Nhiều bộ, địa phương “chậm chân”

Đến giữa tháng 4/2026, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công vẫn ở mức thấp so với yêu cầu, khi mới đạt 12,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đáng chú ý, còn tới 28 bộ, cơ quan trung ương và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân cả nước, phản ánh những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện và hoàn thiện thủ tục đầu tư.
Doanh nghiệp trước cơ hội bứt phá từ “động lực kép” năng lượng sạch và tài chính xanh

Doanh nghiệp trước cơ hội bứt phá từ “động lực kép” năng lượng sạch và tài chính xanh

Sự kết hợp giữa năng lượng sạch và tài chính xanh đang mở ra cơ hội tái cấu trúc, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy doanh nghiệp Việt thực thi ESG hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững.
Quốc hội thông qua kế hoạch đầu tư công 8,22 triệu tỷ đồng, nhấn mạnh vai trò dẫn dắt vốn ngoài Nhà nước

Quốc hội thông qua kế hoạch đầu tư công 8,22 triệu tỷ đồng, nhấn mạnh vai trò dẫn dắt vốn ngoài Nhà nước

Sáng 24/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030 với tỷ lệ tán thành rất cao (482/484 đại biểu, đạt 99,58%).
Kéo dài ưu đãi thuế xe điện đến 2030: Tạo “khoảng đệm” thúc đẩy chuyển đổi xanh

Kéo dài ưu đãi thuế xe điện đến 2030: Tạo “khoảng đệm” thúc đẩy chuyển đổi xanh

Sáng 24/4, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, trong đó đáng chú ý là việc kéo dài chính sách ưu đãi thuế xe ô tô điện chạy pin đến hết năm 2030.
Chính thức bỏ ngưỡng “cứng” 500 triệu đồng/năm doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh

Chính thức bỏ ngưỡng “cứng” 500 triệu đồng/năm doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh

Quốc hội vừa đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế quan trọng, chính thức bỏ quy định mức doanh thu chịu thuế 500 triệu đồng/năm đối với hộ, cá nhân kinh doanh. Thay vào đó, thẩm quyền xác định ngưỡng này được giao cho Chính phủ Việt Nam, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
Sẽ thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ, 10 địa phương từ 1/10/2026

Sẽ thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ, 10 địa phương từ 1/10/2026

Sáng 24/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Việt Nam khóa XVI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công với 467/484 đại biểu tán thành (chiếm 96,8%). Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/10/2026 và được triển khai thí điểm đến hết ngày 30/9/2028.
Quốc hội thông qua Nghị quyết phát triển văn hóa - xung lực mới cho động lực nội sinh quốc gia

Quốc hội thông qua Nghị quyết phát triển văn hóa - xung lực mới cho động lực nội sinh quốc gia

Sáng 24/4, Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu, đạt 95,4%), thể hiện quyết tâm chính trị trong việc hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực cho lĩnh vực được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội.
Tranh luận ngưỡng doanh thu chịu thuế: Quốc hội đề nghị “giữ quyền” bằng khung luật

Tranh luận ngưỡng doanh thu chịu thuế: Quốc hội đề nghị “giữ quyền” bằng khung luật

Tranh luận tại Quốc hội Việt Nam ngày 23/4 tập trung vào việc xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh, trong đó nhiều ý kiến đề nghị luật cần quy định khung cụ thể để vừa bảo đảm tính linh hoạt điều hành, vừa giữ vững thẩm quyền lập pháp trong lĩnh vực thuế.
Quốc hội thông qua Luật Thủ đô 2026, trao cơ chế đặc thù cho Hà Nội

Quốc hội thông qua Luật Thủ đô 2026, trao cơ chế đặc thù cho Hà Nội

Với tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối, Luật Thủ đô 2026 chính thức được thông qua, tạo hành lang pháp lý mới để Hà Nội chủ động hơn trong quản lý, phát triển và triển khai các dự án lớn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát chặt giá cả, không để tăng giá bất hợp lý theo chi phí

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát chặt giá cả, không để tăng giá bất hợp lý theo chi phí

Trước áp lực “nhập khẩu lạm phát” từ bên ngoài, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các bộ, ngành chủ động điều hành giá, tăng cường giám sát thị trường và không để doanh nghiệp lợi dụng biến động chi phí để tăng giá không hợp lý.
Quốc hội bàn ưu đãi xe điện: Không thể thiếu cơ chế thu hồi pin thải

Quốc hội bàn ưu đãi xe điện: Không thể thiếu cơ chế thu hồi pin thải

Bên cạnh đề xuất kéo dài ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô điện chạy pin đến hết năm 2030, tại kì hợp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng chính sách hỗ trợ thị trường chỉ thực sự bền vững khi đi kèm trách nhiệm thu hồi, tái chế pin sau sử dụng. Đây được xem là mắt xích quan trọng để tránh nguy cơ ô nhiễm mới, đồng thời hoàn thiện hệ sinh thái giao thông xanh tại Việt Nam.
Cần hình thành doanh nghiệp “xương sống” để tạo trụ đỡ tăng trưởng bền vững

Cần hình thành doanh nghiệp “xương sống” để tạo trụ đỡ tăng trưởng bền vững

Để duy trì mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn, nền kinh tế Việt Nam cần sớm hình thành doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực công nghệ và sức cạnh tranh quốc tế đóng vai trò “xương sống”, theo ý kiến của đại biểu Đỗ Chí Nghĩa tại phiên thảo luận tị Quốc hội sâng 23/4.