Báo cáo tài chính quý II/2026 của nhiều doanh nghiệp ngành nhựa cho thấy xu hướng phục hồi rõ nét sau giai đoạn nhiều biến động. Sự cải thiện của thị trường xây dựng, hoạt động đầu tư công, xuất khẩu cùng mặt bằng giá hạt nhựa tương đối ổn định đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong ngành.
CTCP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong (HNX: NTP) ghi nhận quý kinh doanh ấn tượng nhất từ trước đến nay. Doanh thu thuần đạt gần 2.160 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt gần 478 tỷ đồng, tăng 49%.
Đây là lần đầu tiên doanh nghiệp đạt lợi nhuận sau thuế theo quý vượt mốc 400 tỷ đồng. Kết quả tích cực đến từ sản lượng tiêu thụ tăng, biên lợi nhuận gộp cải thiện lên trên 38%, cùng với việc chủ động dự trữ nguyên liệu từ đầu năm khi giá hạt nhựa ở mức thấp, giúp giảm áp lực chi phí đầu vào.
![]() |
| Doanh nghiệp ngành nhựa tăng tốc lợi nhuận quý II, nhiều đơn vị lập kỷ lục kinh doanh |
Lũy kế 6 tháng đầu năm, Nhựa Thiếu niên Tiền Phong đạt khoảng 3.650 tỷ đồng doanh thu thuần và gần 732 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận trước thuế đạt hơn 879 tỷ đồng, tương đương gần 98% kế hoạch cả năm.
Trong khi đó, CTCP Nhựa Bình Minh (HOSE: BMP) cũng ghi nhận mức lợi nhuận theo quý cao nhất kể từ khi hoạt động.
Quý II/2026, doanh nghiệp đạt doanh thu thuần gần 1.319 tỷ đồng, tăng nhẹ so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt hơn 459 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 367 tỷ đồng, đều tăng khoảng 11%.
Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp tiếp tục duy trì biên lợi nhuận gộp ở mức cao 46,7%, đồng thời giảm mạnh chi phí bán hàng, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động.
Sau 6 tháng đầu năm, Nhựa Bình Minh ghi nhận doanh thu 2.777 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 671 tỷ đồng, hoàn thành khoảng 53% kế hoạch lợi nhuận năm 2026.
Ở phân khúc nhựa bao bì, CTCP Thuận Đức (HOSE: TDP) cũng ghi nhận kết quả tích cực khi doanh thu quý II đạt 1.235 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ, còn lợi nhuận sau thuế đạt 41,3 tỷ đồng, cao gấp hơn hai lần.
Theo doanh nghiệp, tăng trưởng đến từ nhu cầu tiêu thụ cải thiện ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, cùng với việc chủ động sử dụng nguyên liệu nhựa tái chế có giá cạnh tranh, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi, lợi nhuận còn được hỗ trợ từ khoản thu nhập phát sinh do chuyển nhượng phần vốn góp tại dự án Nhà máy sản xuất bao bì và túi siêu thị cho CTCP Thuận Đức Bỉm Sơn.
Theo đánh giá của Chứng khoán FPT (FPTS), ngành nhựa vẫn còn dư địa tăng trưởng trong ngắn và trung hạn, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp nhựa xây dựng khi thị trường bất động sản và hoạt động đầu tư công đang từng bước phục hồi.
Bên cạnh đó, việc giá hạt nhựa được dự báo duy trì ở mức thấp trong trung và dài hạn có thể tiếp tục hỗ trợ biên lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, FPTS cũng cho rằng mức độ hưởng lợi sẽ không đồng đều. Những doanh nghiệp có năng lực quản trị hàng tồn kho, chủ động nguồn nguyên liệu, kiểm soát chi phí tốt và sở hữu hệ thống phân phối mạnh sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc duy trì tăng trưởng lợi nhuận.
Đối với nhóm doanh nghiệp nhựa bao bì xuất khẩu, áp lực từ các tiêu chuẩn môi trường và xu hướng tiêu dùng xanh trên thị trường quốc tế sẽ ngày càng lớn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ, vật liệu tái chế và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo FPTS, giai đoạn 2015-2024, doanh thu ngành nhựa Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kép khoảng 13,4% mỗi năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa. Năm 2024, quy mô doanh thu toàn ngành ước đạt khoảng 31 tỷ USD, tương đương khoảng 6,5% GDP, với sản lượng khoảng 11,7 triệu tấn.
Trong giai đoạn 2025-2029, FPTS dự báo sản lượng ngành nhựa có thể tăng trưởng bình quân khoảng 7% mỗi năm, đạt khoảng 16,4 triệu tấn vào năm 2029. Trong đó, nhựa xây dựng được kỳ vọng tiếp tục là phân khúc dẫn dắt nhờ hưởng lợi từ nhu cầu trong nước phục hồi và dư địa mở rộng xuất khẩu.
Kết quả kinh doanh quý II/2026 cho thấy ngành nhựa đang bước vào giai đoạn phục hồi tích cực. Tuy nhiên, triển vọng của từng doanh nghiệp sẽ phụ thuộc đáng kể vào khả năng kiểm soát chi phí nguyên liệu, năng lực mở rộng thị trường, sức khỏe tài chính và khả năng thích ứng với các yêu cầu mới của thị trường trong nước cũng như quốc tế.