Chủ nhật 11/10/2026 12:25
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Bất động sản

Để kinh tế tư nhân trở thành “động lực quan trọng”: Những “nút thắt” cần tháo gỡ

01/02/2021 10:09
35 năm đổi mới, Việt Nam đã giành được những thành tựu nổi bật về kinh tế, xã hội và vị thế quốc gia trên trường quốc tế...

Trong thành công có tính chiến lược đó phải kể đến những đóng góp của kinh tế tư nhân và những khơi thông về mặt lý luận, chính sách trong tư duy đổi mới của Đảng, Nhà nước ta.

(Ảnh: Internet)

KTTN – Những khơi thông về mặt lý luận

Trước thời kỳ đổi mới, đường lối kinh tế của Đảng ta là xây dựng nền kinh tế quá độ đi lên CNXH với cơ cấu kinh tế một thành phần gồm hai bộ phận, quốc doanh và tập thể, được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các thành phần kinh tế khác được gọi là phi XHCN, và nằm trong diện cải tạo, xóa bỏ để tiến tới một nền kinh tế thuần khiết, do đó phạm trù KTTN (KTTN) không tồn tại trong lý luận và trong đời sống thực tiễn.

Bước ngoặt cơ bản là tại Ðại hội lần thứ VI của Ðảng (năm 1986), sau khi phê phán “những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh”, “chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan”, Ðại hội lần đầu tiên thừa nhận sự tồn tại của hai nhóm thành phần kinh tế: 1) Các thành phần kinh tế XHCN gồm quốc doanh, tập thể, bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với kinh tế tập thể và 2) Các thành phần kinh tế phi XHCN gồm tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc.

Sau Đại hội VI, việc nhìn nhận vai trò của KTTN đã có thay đổi về cơ bản. Trong Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15/7/1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, Đảng ta khẳng định: KTTN được phát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, ngành nghề mà pháp luật không cấm. Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (năm 1992), Đảng ta xác định: “KTTN được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước, trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”; “Bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm đảm bảo cho KTTN được phát huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm; được tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định”… Đây có thể coi là dấu mốc, bước ngoặt thực sự trong quá trình phát triển của KTTN. Với dấu mốc này, KTTN bước đầu được coi trọng và khuyến khích phát triển. Tiếp đó, trong các văn kiện quan trọng của Đảng, vai trò của KTTN lại được khẳng định: “KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX tháng 3/2002), “KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” đồng thời KTTN chính thức được xác nhận là một thành phần kinh tế trên cơ sở hợp nhất hai thành phần kinh tế: Cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân (Nghị quyết Đại hội X tháng 4/2006). Ngoài ra, Đại hội đã thông qua một quyết định rất quan trọng là cho phép đảng viên được làm KTTN.

Đại hội XI năm 2011, vai trò KTTN được nâng tầm cao mới với việc đưa vào Nghị quyết “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh KTTN ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế”.

Tại Đại hội XII (tháng 1/2016), cùng với việc khẳng định “KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế”, thì lần đầu tiên khái niệm tập đoàn KTTN xuất hiện. Báo cáo Chính trị Đại hội XII chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh KTTN ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”. Quan điểm này của Đại hội XII không chỉ xác nhận vai trò mới của KTTN, mà còn mở ra những cơ hội mới để thành phần kinh tế này phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm sắp tới.

(Ảnh: Internet)

Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, Đảng ta ban hành Nghị quyết về “Phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết xác định: “Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để KTTN phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP. Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển KTTN lành mạnh và đúng định hướng”. Với Nghị quyết này, lần đầu tiên trong lịch sử cải cách kinh tế ở Việt Nam, vai trò và tầm quan trọng của khu vực KTTN được Đảng chính thức công nhận.

Dấu ấn trong thực tiễn phát triển

Nhờ sự khơi thông về mặt lý luận và mở đường về đường lối, cơ chế, chính sách, khu vực KTTN đã bùng nổ, phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

Nhìn lại chặng đường 35 năm đổi mới (1986- 2020), từ tâm lý thụ động, trông chờ vào Nhà nước và tập thể, các tầng lớp nhân dân đã chuyển sang ý thức chủ động và tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội; qua đó tạo điều kiện giúp khu vực KTTN ở Việt Nam từng bước phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ chỉ có các hộ kinh doanh cá thể, chủ yếu hoạt động trong khu vực phi chính thức, nước ta đã có những tập đoàn kinh tế lớn; KTTN đã chuyển đổi mạnh mẽ sang hoạt động trong khu vực chính thức của nền kinh tế, phạm vi kinh doanh rộng khắp ở những ngành mà pháp luật không cấm. Đặc biệt, trong những năm qua một làn sóng khởi nghiệp đã, đang diễn ra đem lại sức sống mới cho nền kinh tế.

Đến nay (năm 2020), KTTN ở nước ta đã phát triển, trở thành lực lượng quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững. “KTTN đạt tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 43% GDP, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, v.v.. Nhiều mô hình kinh doanh mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Đã hình thành và phát triển một số tập đoàn KTTN tiên phong trong đầu tư và ứng dụng KHCN có thương hiệu và năng lực cạnh tranh trong nước, khu vực và quốc tế” (Dự thảo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH trình Đại hội XIII của Đảng). Tuy nhiên, Dự thảo Báo cáo cũng chỉ ra những thực tế: “KTTN chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, trình độ quản trị và công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động thấp, mức độ sẵn sàng và liên kết khu vực đầu tư nước ngoài hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của chuỗi giá trị sản xuất khu vực và toàn cầu”.

Có thể thấy, khu vực KTTN ngày càng có vai trò lớn trong công cuộc phát triển đất nước và đã trở thành một trong những trụ cột chính của nền kinh tế, đóng góp lớn cho GDP của quốc gia. Nhưng vai trò ấy chưa được phát huy thật sự đầy đủ do còn tồn tại những khó khăn, cản trở từ chính bản thân KTTN và từ bất cập trong công tác quản lý nhà nước rào cản về thể chế với KTTN. Trong đó, nhiều chuyên gia chỉ ra rằng, vẫn còn có sự phân biệt đối xử giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là xác định vai trò của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Cần phải coi KTTN là thành phần chính của nền kinh tế và có chính sách ưu tiên phát triển một cách thực chất hơn nữa và cần phân định cho KTTN những nguồn lực tích cực. Bên cạnh đó là hiệu quả thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để phát triển KTTN chưa cao; môi trường pháp lý đối với khu vực KTTN chưa hoàn thiện, nhiều quy định chưa đầy đủ, rõ ràng, thiếu nhất quán, phức tạp và chồng chéo.

Xét về nội tại khu vực KTTN, đó là những trở ngại xuất phát từ tồn tại, yếu kém trong nội tại doanh nghiệp khu vực tư nhân; năng lực của doanh nghiệp tư nhân trong việc đổi mới và quản trị doanh nghiệp để thúc đẩy công nghệ, kết hợp đổi mới và tiêu thụ dịch vụ, sản phẩm chưa cao. Tính liên kết giữa các doanh nghiệp khu vực KTTN còn yếu, … Chính những rào cản nêu trên đã hạn chế rất lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế này. Bàn về phương hướng, nhiệm vụ phát triển, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển mạnh khu vực KTTN của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển KTTN; hỗ trợ KTTN đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. Khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn KTTN lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế”.

Để thực hiện mục tiêu trên, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII xác định phải “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng… Tạo mọi điều kiện thuận lợi để KTTN phát triển nhanh, bền vững, đa dạng cả về quy mô, chất lượng… Xây dựng và phát triển các định chế tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ; hỗ trợ chuyển đổi hộ sản xuất, kinh doanh thành doanh nghiệp”. Định hướng đã rõ ràng và nhất quán, điều quan trọng là hành động để hiện thực hóa mục tiêu đưa khu vực tư nhân trở thành “động lực quan trọng”.

Để khu vực KTTN phát huy tối đa tiềm năng và trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam, cần tháo gỡ được chính những tồn tại, “nút thắt” hiện hữu. Trong đó, cần có những thay đổi mạnh mẽ, nhất quán trong quan điểm, tư duy và hành động về phân vai hợp lý giữa các khu vực kinh tế. Nhà nước cần cải cách thể chế mạnh mẽ, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch. Doanh nghiệp tư nhân cần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh thông qua quá trình học hỏi và sáng tạo về công nghệ, áp dụng quản trị tiên tiến và đẩy mạnh khả năng liên kết, hội nhập. Với những gì đất nước đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt trong 1 năm nhiều thách thức do Đại dịch Covid-19 mang lại, chúng ta có lý do để tin rằng Việt Nam sẽ hiện thực hóa được mục tiêu thịnh vượng và tăng trưởng kinh tế bền vững; trong đó có sự đóng góp của các thành phần kinh tế đúng với tiềm năng, thế mạnh riêng có.

PGS.TS. Lâm Quốc Tuấn – Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Tin bài khác
Đắk Lắk: Khơi thông nguồn lực đất đai, công khai danh mục 45 khu đất dự kiến đấu giá năm 2026

Đắk Lắk: Khơi thông nguồn lực đất đai, công khai danh mục 45 khu đất dự kiến đấu giá năm 2026

Nhằm kiến tạo môi trường đầu tư minh bạch và chủ động cung cấp dữ liệu thị trường cho cộng đồng doanh nghiệp, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Đắk Lắk vừa phối hợp cùng Hiệp hội Bất động sản tỉnh tổ chức Chương trình giới thiệu thông tin quỹ đất dự kiến đấu giá năm 2026 (lần thứ hai). Đây được xem là động thái then chốt giúp khơi thông nguồn lực đất đai, mở ra cơ hội vàng đón đầu làn sóng đầu tư vào khu vực kinh tế trọng điểm Tây Nguyên trong kỷ nguyên hội nhập.
TP. Hồ Chí Minh dự kiến khởi công 3 tuyến metro vào cuối năm 2026

TP. Hồ Chí Minh dự kiến khởi công 3 tuyến metro vào cuối năm 2026

Trong 8 dự án đường sắt ưu tiên giai đoạn 2026-2030, TP. Hồ Chí Minh đang đẩy nhanh thủ tục để khởi công metro số 1, số 2 và số 6 vào cuối năm 2026, với tổng chiều dài khoảng 91 km, kết nối các khu vực đô thị và đầu mối giao thông lớn.
350.142 tỷ đồng mở rộng không gian nhà ở Đồng Tháp đến năm 2030

350.142 tỷ đồng mở rộng không gian nhà ở Đồng Tháp đến năm 2030

Không chỉ tăng số lượng nhà ở, Chương trình nhà ở Đồng Tháp còn chú trọng điều chỉnh, định hình lại không gian cư trú gắn với khu công nghiệp, logistics, đô thị và các vùng kinh tế. Tổng nhu cầu vốn phát triển nhà ở giai đoạn 2021–2030 lên tới 350.142 tỷ đồng, phần lớn huy động từ khu vực ngoài ngân sách.
FDI đổi nhịp, bất động sản Việt Nam đứng trước một chu kỳ nhu cầu mới

FDI đổi nhịp, bất động sản Việt Nam đứng trước một chu kỳ nhu cầu mới

Dòng vốn FDI vào bất động sản đạt hơn 5,3 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, nhưng đáng chú ý hơn là phía sau dòng vốn này đang hình thành một lực cầu mới từ sản xuất, công nghiệp, logistics đến nhà ở. Khi hoạt động kinh tế trở thành động lực của thị trường, bất động sản được đặt trước yêu cầu mới: không chỉ có vị trí và quỹ đất, mà phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng thực và khả năng tạo dòng tiền dài hạn.
Phan Thiết quy hoạch 28.661 ha, hướng tới cực tăng trưởng phía Đông Nam

Phan Thiết quy hoạch 28.661 ha, hướng tới cực tăng trưởng phía Đông Nam

Quy hoạch chung 6 phường đến năm 2050 định hướng Phan Thiết trở thành đô thị trung tâm phía Đông Nam tỉnh Lâm Đồng, phát triển theo mô hình đa cực, lấy kinh tế biển, du lịch, logistics và kết nối liên vùng làm động lực.
Phú Thọ khoanh định 4,26ha đất làm vật liệu san lấp tại xã Lương Sơn

Phú Thọ khoanh định 4,26ha đất làm vật liệu san lấp tại xã Lương Sơn

UBND tỉnh Phú Thọ khoanh định 4,26ha đất tại xóm Vé, xã Lương Sơn để khai thác làm vật liệu san lấp, phục vụ các công trình, dự án theo quy định.
Quy hoạch sân bay Lai Châu được đưa vào thẩm định

Quy hoạch sân bay Lai Châu được đưa vào thẩm định

Hội đồng thẩm định quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Lai Châu sẽ xem xét phương án phát triển sân bay cấp 4C, công suất 300.000 hành khách/năm.
Quy hoạch hai đô thị ven biển, mở hướng du lịch, kinh tế biển cho Cà Mau

Quy hoạch hai đô thị ven biển, mở hướng du lịch, kinh tế biển cho Cà Mau

Hai quy hoạch đô thị mới Nguyễn Huân và Khánh Bình Tây mở hai hướng phát triển ven biển Cà Mau. Một bên tập trung kinh tế biển, logistics, thủy sản; bên kia phát triển du lịch, dịch vụ và đô thị biển.
TP. Hồ Chí Minh lập 4 quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, hoàn thành trong năm 2027

TP. Hồ Chí Minh lập 4 quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, hoàn thành trong năm 2027

UBND TP. Hồ Chí Minh ban hành kế hoạch lập 4 quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật trên toàn địa bàn rộng khoảng 6.772 km², gồm giao thông, cao độ nền và thoát nước, cấp nước, chất thải rắn và nghĩa trang. Các quy hoạch dự kiến hoàn thành, trình phê duyệt trong năm 2027, đồng bộ với Quy hoạch tổng thể thành phố thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm.
Cần Thơ mạnh về vị thế nhưng cần đổi mới cách phát triển

Cần Thơ mạnh về vị thế nhưng cần đổi mới cách phát triển

Sở Xây dựng TP. Cần Thơ đang tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư đồng loạt tại 103 xã, phường trên địa bàn đối với Dự thảo hồ sơ Quy hoạch chung Cần Thơ đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Lâm Đồng rà soát dư địa phát triển khu vực phía Bắc Đà Lạt

Lâm Đồng rà soát dư địa phát triển khu vực phía Bắc Đà Lạt

Ngày 4/9, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Hồng Hải khảo sát thực tế một số khu vực định hướng phát triển và điều chỉnh Quy hoạch chung đô thị 5 phường liền kề trên địa bàn phường Lang Biang - Đà Lạt. Qua khảo sát, lãnh đạo tỉnh yêu cầu rà soát kỹ các quy hoạch, dự án nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, tạo động lực phát triển mới cho địa phương.
Vĩnh Long tiếp tục mời đầu tư dự án nhà ở xã hội Hòa Phú

Vĩnh Long tiếp tục mời đầu tư dự án nhà ở xã hội Hòa Phú

Nhà ở xã hội tại Khu tái định cư Khu công nghiệp Hòa Phú, xã Phú Quới, tỉnh Vĩnh Long đang được tiếp tục công khai thông tin để lựa chọn nhà đầu tư làm chủ đầu tư. Thông tin dự án được công bố trong 30 ngày, từ 28/8 đến hết 26/9/2026.
Bản đồ bất động sản Đắk Lắk 2026: Tâm điểm 37 "khu đất vàng" sắp lộ diện

Bản đồ bất động sản Đắk Lắk 2026: Tâm điểm 37 "khu đất vàng" sắp lộ diện

Đắk Lắk vừa chính thức công bố kế hoạch "tung" 37 khu đất vàng và dự án trị giá hơn 10.400 tỉ đồng vào năm 2026. Đây được xem là cú hích hạ tầng lớn nhất, mở ra cơ hội đầu tư sinh lời có một không hai tại tâm điểm vùng Tây Nguyên.
Quy hoạch đô thị: Câu hỏi từ đầu tư những khối công trình lớn

Quy hoạch đô thị: Câu hỏi từ đầu tư những khối công trình lớn

Cộng đồng mạng xã hội hai ngày qua vừa có những đề xuất đầu tư quy hoạch, mở rộng chỉnh trang Bệnh viện Trung ương Huế, khối công trình đang phát triển từ hoạt động thực tiễn. Vấn đề được nêu lên, là đã đến lúc những công trình xã hội lớn như vậy cần có tầm nhìn quy hoạch tổng thể hợp lý.
Doanh nghiệp kêu khó, đề xuất sớm sửa Nghị định 35 để gỡ vướng cho khu công nghiệp xanh

Doanh nghiệp kêu khó, đề xuất sớm sửa Nghị định 35 để gỡ vướng cho khu công nghiệp xanh

Theo các chuyên gia và doanh nghiệp cùng kiến nghị sớm sửa đổi Nghị định 35, xây dựng tiêu chí rõ ràng để thúc đẩy phát triển khu công nghiệp xanh, tuần hoàn.