Năm 2020 là năm thế giới và Việt Nam đã và đang chịu đựng những tác động tiêu cực đến các hoạt động đời sống, kinh tế, xã hội do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Đây là thời điểm thích hợp với những điều kiện hết sức thuận lợi có thể giúp hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam có bước chuyển mình, nhanh chóng bắt kịp với tốc độ và trình độ phát triển của các hệ thống tài chính - ngân hàng tiên tiến trên thế giới. Với những yêu cầu thực tiễn của xã hội và của nền kinh tế, các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đã chủ động nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ để tối ưu hóa sản phẩm, dịch vụ và bước đầu chuyển đổi mô hình hoạt động theo hướng số hóa với các giải pháp ngân hàng tự động, ngân hàng số.
Chia sẻ tại diễn đàn, TS Nguyễn Trí Hiếu cho biết, ngày nay Công nghệ thông tin 4.0 mở ra một kỷ nguyên mới cho lãnh vực tài chính ngân hàng. Trong một mô hình kinh tế chia sẻ mà CNTT 4.0 có thể xem như một chiếc đũa thần, đã kết nối các thành phần kinh tế lại với nhau, như chưa từng có trong lịch sử loài người. Trong khi ngân hàng truyền thống, trong đó con người trực tiếp tiếp xúc và giao dịch với nhau trong một không gian vật lý, vẫn còn tồn tại, thì mô hình ngân hàng ảo, ngân hàng kỹ thuật số (virtual banking/digital banking) mà con người giao dịch với nhau trên không gian mạng, ngày càng phổ biến và thông dụng hơn. Bên cạnh đó là những trung gian tài chính ảo, hay còn gọi là các trung gian tài chính kỹ thuật số (digital financial intermediaries) ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong các lãnh vực đầu tư, tài chính.

Để Việt Nam xây dựng một thương hiệu quốc gia cho công nghệ tài chính ngân hàng thì đầu tiên là ngành ngân hàng phải tận dụng CNTT 4.0 để giao dịch và kết nối với khách hàng và xây dựng những sản phẩm và dịch vụ mang tính công nghệ kỹ thuật cao, vừa nhanh chóng tiện lợi vừa hạ chi phí cho khách hàng, vừa bảo mật thông tin. “An toàn, tiện lợi và chi phí thấp” là chỉ tiêu hàng đầu cho dịch vụ tài chính ngân hàng. Tuy nhiên, hệ sinh thái trong lãnh vực tài chính ngân hàng (bao gồm ngân hàng, công ty tài chính, các hãng bảo hiểm, các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán, các quỹ tín dụng, quỹ tiết kiệm) đang mở rộng để kết nối với các trung gian tài chính khác bao gồm các công ty Fintech. Về thực chất, các công ty Fintech không phải là những định chế tài chính, nhưng họ là những trung gian tài chính kết nối các thành phần kinh tế với nhau để đáp ứng những nhu cầu tài chính như đầu tư, vay mượn, tài trợ. Điển hình cho những hoạt động của các công ty Fintech là làm trung gian kết nối những hoạt động thanh toán, đầu tư, cho vay, qua một nền tảng (platform) ứng dụng CNTT hiện đại...
Cũng tại diễn đàn, theo đánh giá của TS Cấn Văn Lực – Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho biết, tại Việt Nam, công nghệ tài chính (fintech) đang có những bước phát triển nhanh và mạnh mẽ. Theo đó, nếu như năm 2017 cả nước mới có khoảng 74 công ty fintech cạnh tranh trên thị trường, thì đến cuối năm 2019 số lượng các công ty fintech đã tăng gấp đôi lên gần 140 công ty.
Các công ty Fintech hiện đầu tư vào rất nhiều lĩnh vực như thanh toán điện tử, tài chính cá nhân, công nghệ bảo hiểm, công nghệ chuỗi khối (blockchain), cho vay, đánh giá điểm tín dụng, quản lý tài sản, gọi vốn cộng đồng… Trong đó, lĩnh vực các công ty fintech tập trung vào nhiều nhất là thanh toán (chiếm tỷ lệ lớn nhất với 47% số công ty và 98% số vốn đầu tư vào fintech Việt Nam năm 2019), tiếp đến là cho vay ngang hàng với 20 công ty…
Tuy nhiên, Fintech còn gặp nhiều rủi ro và thách thức, trước hết là vấn đề pháp lý, chính sách và văn hóa. Trong đó cơ chế, chính sách hay thay đổi, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán.
Bên cạnh đó, quy định về hoạt động Fintech (dạng sandbox) chưa được ban hành lại thiếu các tiêu chuẩn, chuẩn mực chung. Dữ liệu chưa được chia sẻ và văn hóa giấy tờ, thói quen dùng tiền mặt còn nặng nề. 
Một cái khó nữa là chưa có cơ sở dữ liệu định danh cá nhân quốc gia và dữ liệu về doanh nghiệp còn phân tán, thiếu cập nhật, thiếu nhất quán và đồng bộ. Đồng thời đi kèm đó là thách thức về vấn đề an toàn bảo mật, an ninh mạng. Rủi ro an ninh mạng ở mức cao, trong khi nhận thức và giải pháp còn hạn chế và rủi ro phụ thuộc bên thứ 3 nhiều. Như thế khó kiểm soát hơn.
Các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số là xu hướng không thể bỏ qua của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần đầu tư nghiêm túc cho công nghệ nếu muốn có lợi thế để phát triển trong tương lai và Fintech là trọng tâm cần được đưa vào chiến lược phát triển thương hiệu của doanh nghiệp.
“Làm được điều đó mới giúp doanh nghiệp phát triển thương hiệu nhanh hơn, mạnh hơn và bền vững hơn”, TS.Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh phát biểu.
Để Fintech phát triển và để mang lại bước phát triển mạnh mẽ cho ngành công nghệ tài chính ngân hàng bắt nhịp với mức độ phát triển của thế giới, các chuyên gia cho rằng trước hết cần nhanh hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý hoạt động Fintech theo cách tiếp cận: mở nhưng kiểm soát được rủi ro (sandbox…) và hoàn thiện thể chế, và cần bộ máy quản lý Fintech như thành lập một đơn vị có thể là một vụ một cục thuộc bộ để là đầu mối, quản lý thống nhất Fintech.
Bên cạnh đó là cần tạo được niềm tin từ cả người tiêu dùng lẫn người quản lý, đơn cử như cơ quan thuế thấy rằng sẽ thu đủ thuế. Và cần có hệ sinh thái và môi trường cho đổi mới sáng tạo. Đồng thời cần có tiêu chuẩn, chuẩn mực chung, các quy định về liên kết, hệ sinh thái giữa ngân hàng, Fintech, Big tech, bên thứ 3 và các chuỗi cửa hàng, trang thương mại điện tử. Và các Fintech, Big tech và ngân hàng tham gia Fintech phải đáp ứng các yêu cầu về vốn, công nghệ, chuẩn mực hoạt động và quản lý rủi ro...
Gia Minh