Thứ ba 31/03/2026 21:25
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Gỡ “nút thắt” đầu tư vào nông nghiệp: Chính sách mới hướng tới trúng – đúng – đủ lực

Gỡ “nút thắt” đầu tư vào nông nghiệp: Chính sách mới hướng tới trúng – đúng – đủ lực

Dự thảo nghị định khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đang được hoàn thiện theo hướng tinh gọn, đồng bộ và sát thực tiễn, với trọng tâm tháo gỡ rào cản, tập trung nguồn lực vào những khâu còn “khát vốn” của khu vực doanh nghiệp.
Tái định vị du lịch Việt, hướng tới mốc 14% GDP

Tái định vị du lịch Việt, hướng tới mốc 14% GDP

Ngành du lịch Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mang tính bản lề, từ tăng trưởng theo số lượng sang phát triển theo chiều sâu, chất lượng và bền vững. Với mức đóng góp trực tiếp khoảng 8,8% GDP năm 2025, ngành được kỳ vọng sẽ vươn tới mốc 14% vào năm 2030 theo định hướng quy hoạch mới.
Hà Nội phải giữ bằng được “vận tốc mới”, tạo nền cho phát triển bền vững

Hà Nội phải giữ bằng được “vận tốc mới”, tạo nền cho phát triển bền vững

Qua kiểm tra, giám sát đợt 1, Hà Nội được đánh giá đã hình thành khí thế mới, nhịp độ mới trong lãnh đạo, điều hành. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra với Thủ đô không chỉ là duy trì chuyển biến ban đầu, mà phải biến kết quả bước đầu thành xu thế phát triển bền vững, gắn với tăng trưởng, kỷ luật công vụ và hiệu quả thực thi trong toàn hệ thống chính trị.
Thủ tướng Chính phủ: Giảm tiền điện, thúc đẩy điện mặt trời mái nhà đến từng hộ gia đình

Thủ tướng Chính phủ: Giảm tiền điện, thúc đẩy điện mặt trời mái nhà đến từng hộ gia đình

Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg, yêu cầu tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà, với trọng tâm vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Việt Nam giữ đà tăng trưởng cao trong nhóm Đông Nam Á-6

Việt Nam giữ đà tăng trưởng cao trong nhóm Đông Nam Á-6

Sau mức tăng trưởng GDP thực 8% trong năm 2025, cao nhất nhóm Đông Nam Á-6, Việt Nam tiếp tục được dự báo duy trì đà phát triển tích cực trong năm 2026. Bên cạnh các động lực từ xuất khẩu, sản xuất và dịch vụ, bất động sản công nghiệp, bán lẻ và trung tâm dữ liệu đang mở thêm dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Hải Phòng đề xuất thu phí 0 đồng hạ tầng cảng biển với xăng dầu: Chia sẻ khó khăn, giữ vững nguồn cung

Hải Phòng đề xuất thu phí 0 đồng hạ tầng cảng biển với xăng dầu: Chia sẻ khó khăn, giữ vững nguồn cung

Trước những biến động khó lường của thị trường năng lượng toàn cầu, đặc biệt từ xung đột tại Trung Đông, TP Hải Phòng đang chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng hành cùng doanh nghiệp xăng dầu. Đáng chú ý, thành phố đề xuất áp dụng mức thu phí hạ tầng cảng biển 0 đồng đối với hàng lỏng trong 9 tháng cuối năm 2026, góp phần giảm chi phí và bảo đảm nguồn cung nhiên liệu cho thị trường.
Nghi Sơn và bài toán dự trữ năng lượng chiến lược của Việt Nam

Nghi Sơn và bài toán dự trữ năng lượng chiến lược của Việt Nam

Chuyến làm việc của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt cho hoạt động cung ứng nhiên liệu, mà còn đặt ra một bước đi dài hạn cho an ninh năng lượng quốc gia.
Tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc hoàn thành sân bay Long Thành trong năm 2026

Tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc hoàn thành sân bay Long Thành trong năm 2026

Trong chuyến kiểm tra thực địa chiều 29/3 tại dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và các công trình kết nối, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư và nhà thầu khẩn trương tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc, tăng tốc thi công, bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn lao động và mục tiêu đưa sân bay vào khai thác trong quý IV/2026.
Phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam: Kỳ vọng tạo cú hích tăng trưởng

Phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam: Kỳ vọng tạo cú hích tăng trưởng

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc vừa ký Quyết định số 498 phê duyệt Đề án cơ cấu lại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2035, với định hướng phát triển thành Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng trong tiến trình tái cơ cấu toàn diện ngành đường sắt, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả khai thác.
42 dự án trị giá gần 4 tỉ USD sẽ được đầu tư vào Thanh Hoá

42 dự án trị giá gần 4 tỉ USD sẽ được đầu tư vào Thanh Hoá

Tại hội nghị xúc tiến đầu tư diễn ra vào sáng ngày 29-3, tại khu FLC SamSon Golf&Resort (phường Sầm Sơn), tỉnh Thanh Hóa đã trao quyết định chủ trương đầu tư cho 28 và biên bản ghi nhớ cho 14 dự án, có tổng vốn gần 4 tỉ USD
Lọc hóa dầu Bình Sơn giữ nhịp sản xuất đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

Lọc hóa dầu Bình Sơn giữ nhịp sản xuất đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

Theo thông tin từ doanh nghiệp, BSR đang tận dụng linh hoạt các nguồn cấu tử trung gian và nguyên liệu có giá trị octan cao nhằm tối ưu hóa sản lượng xăng.
Gia Lai thu hút gần 21 tỷ USD tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư 2026, mở ra cực tăng trưởng mới

Gia Lai thu hút gần 21 tỷ USD tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư 2026, mở ra cực tăng trưởng mới

Sáng 28/3, tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư Gia Lai 2026, địa phương thu hút gần 21 tỷ USD vốn cam kết, mở ra cơ hội trở thành trung tâm chế biến, logistics và cực tăng trưởng mới khu vực.
Hai nút thắt cần gỡ để đề án sân bay Ninh Bình đủ điều kiện tiến thêm bước nữa

Hai nút thắt cần gỡ để đề án sân bay Ninh Bình đủ điều kiện tiến thêm bước nữa

Đề án nghiên cứu khả năng hình thành Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình đã cơ bản được hoàn thiện, nhưng để có thể trình cấp có thẩm quyền xem xét, hai bài toán lớn vẫn cần sớm có lời giải phù hợp: đánh giá vùng trời và xác lập phương thức bay tổng thể trong mối liên hệ với hàng loạt sân bay lân cận ở miền Bắc.
Nhu cầu điện Việt Nam tăng cao, pin lưu trữ và xe điện đặt ra bài toán mới cho hệ thống điện

Nhu cầu điện Việt Nam tăng cao, pin lưu trữ và xe điện đặt ra bài toán mới cho hệ thống điện

Nhu cầu điện năng của Việt Nam được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới, trong khi nguy cơ thiếu công suất vào giờ cao điểm mùa khô vẫn hiện hữu. Trong bối cảnh đó, điện mặt trời mái nhà, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) và làn sóng xe điện được xem là những biến số lớn buộc ngành điện phải tăng tốc thích ứng để bảo đảm an ninh cung ứng.
Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Hòa Bình: Mỹ có thể trở thành nhà đầu tư tiên phong tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam

Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Hòa Bình: Mỹ có thể trở thành nhà đầu tư tiên phong tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình kỳ vọng các nhà đầu tư Mỹ không chỉ rót vốn mà còn trở thành “đại sứ” kết nối dòng tiền quốc tế vào Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam. Thông điệp được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy mô hình “một trung tâm, hai điểm đến” tại TP HCM và Đà Nẵng, với tmục tiêu tạo đột phá thể chế, hút vốn lớn và nâng tầm vị thế tài chính quốc gia.