Thứ sáu 07/08/2026 03:20
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Hải Phòng tăng tốc về đích, quyết tâm chinh phục mục tiêu GRDP 13%

Hải Phòng tăng tốc về đích, quyết tâm chinh phục mục tiêu GRDP 13%

Sau nửa đầu năm ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong 5 năm qua, Hải Phòng tiếp tục điều chỉnh kịch bản phát triển cho 6 tháng cuối năm với quyết tâm hoàn thành mục tiêu GRDP đạt 13%. Thành phố đồng thời kích hoạt hàng loạt giải pháp đột phá, giao rõ trách nhiệm cho từng ngành, từng địa phương để tạo bứt phá trên mọi lĩnh vực.
Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050

Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050

Thách thức của Net Zero (chuyển đổi hướng tới phát thải ròng bằng 0) của Việt Nam không chỉ nằm ở việc tìm nguồn vốn, mà còn ở khả năng xây dựng hạ tầng thị trường và chuẩn hóa dự án để dòng tiền quốc tế có thể đi vào nền kinh tế một cách thực chất.
Dung Quất được đề xuất cơ chế đặc thù phát triển trung tâm năng lượng quốc gia

Dung Quất được đề xuất cơ chế đặc thù phát triển trung tâm năng lượng quốc gia

Đề án phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất đang được khẩn trương hoàn thiện theo hướng xây dựng cơ chế đặc thù về đầu tư, đất đai, tài chính và ưu đãi nhằm hình thành chuỗi công nghiệp năng lượng tích hợp, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển kinh tế biển.
Trình Quốc hội dự án vành đai 5 vùng Thủ đô trên 288.000 tỷ đồng

Trình Quốc hội dự án vành đai 5 vùng Thủ đô trên 288.000 tỷ đồng

Dự án Vành đai 5 vùng Thủ đô với tổng vốn hơn 288.000 tỷ đồng đang được trình Quốc hội xem xét, đặt ra bài toán lớn về nguồn lực, tiến độ và hiệu quả đầu tư trong giai đoạn tới.
TP. Hồ Chí Minh nâng chuẩn lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao

TP. Hồ Chí Minh nâng chuẩn lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao

Không còn đặt mục tiêu thu hút FDI bằng mọi giá, TP. Hồ Chí Minh đang thay đổi tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư. Những dự án sở hữu công nghệ cao, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tạo sức lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước trở thành ưu tiên trong chiến lược phát triển giai đoạn mới.
ĐBQH đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

ĐBQH đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, một số đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung hoạt động kinh doanh kim cương vào danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời kiến nghị siết quản lý đối với một số mô hình kinh doanh mới tiềm ẩn nhiều rủi ro.
ĐBQH: Cấm kinh doanh khí cười N₂O cần đồng bộ quy định để ngăn mua bán trái phép

ĐBQH: Cấm kinh doanh khí cười N₂O cần đồng bộ quy định để ngăn mua bán trái phép

Thảo luận tại Quốc hội, nhiều đại biểu ủng hộ việc cấm đầu tư, kinh doanh khí cười N₂O nhưng cho rằng cần hoàn thiện cơ sở pháp lý và quy định chuyển tiếp để bảo đảm xử lý hiệu quả các hành vi mua bán trái phép, tránh phát sinh vướng mắc trong thực thi.
ĐBQH đề xuất hoàn thiện hạ tầng số, rút ngắn thời gian kiểm tra sau thông quan

ĐBQH đề xuất hoàn thiện hạ tầng số, rút ngắn thời gian kiểm tra sau thông quan

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng số, tăng cường kết nối liên thông và cải cách thủ tục nhằm rút ngắn thời gian xử lý, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời bảo đảm tính khả thi của các quy định mới.
Đề xuất siết quản lý thiết kế đô thị tại các dự án bất động sản quy mô lớn

Đề xuất siết quản lý thiết kế đô thị tại các dự án bất động sản quy mô lớn

Thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị bổ sung cơ chế kiểm soát chặt thiết kế đô thị đối với các dự án bất động sản quy mô lớn nhằm bảo đảm cảnh quan, phát triển kiến trúc bền vững và nâng cao chất lượng không gian đô thị.
Vũng Áng định hình khu kinh tế ven biển đa ngành, ưu tiên 5 nhóm dự án đến 2030

Vũng Áng định hình khu kinh tế ven biển đa ngành, ưu tiên 5 nhóm dự án đến 2030

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 1487/QĐ-TTg ngày 5/8/2026 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Vũng Áng đến năm 2050. Quy hoạch mới đặt mục tiêu xây dựng khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, đa chức năng, tạo dư địa thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, cảng biển, logistics và hệ thống đô thị hiện đại, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho tỉnh Hà Tĩnh.
Cao tốc TP.HCM - Long Thành tăng tốc thi công quyết về đích năm 2026

Cao tốc TP.HCM - Long Thành tăng tốc thi công quyết về đích năm 2026

Các nhà thầu đang tăng tốc thi công dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Long Thành, vượt khó về vật liệu, thời tiết, quyết hoàn thành đúng tiến độ năm 2026 theo yêu cầu Chính phủ.
Việt Nam hoàn tất hồ sơ nâng hạng tuân thủ thuế, hướng tới rời danh sách thuế EU

Việt Nam hoàn tất hồ sơ nâng hạng tuân thủ thuế, hướng tới rời danh sách thuế EU

Việc hoàn thành hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu gửi Ban Thư ký Diễn đàn Toàn cầu đánh dấu thêm một bước trong lộ trình nâng cao mức độ minh bạch về thuế của Việt Nam. Nếu đạt kết quả tích cực, quá trình này sẽ góp phần cải thiện môi trường đầu tư, tăng uy tín quốc gia và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động của doanh nghiệp trong các giao dịch quốc tế.
Yêu cầu đẩy nhanh hoàn thiện cao tốc phân kỳ, ưu tiên mở rộng 2 làn lên 4 làn

Yêu cầu đẩy nhanh hoàn thiện cao tốc phân kỳ, ưu tiên mở rộng 2 làn lên 4 làn

Chính phủ yêu cầu rà soát, ưu tiên đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ, tập trung mở rộng 2 làn lên 4 làn, đồng thời linh hoạt huy động nguồn lực nhằm bảo đảm mục tiêu hạ tầng đến năm 2030.
Hải quan Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng tầm hợp tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Hải quan Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng tầm hợp tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Thương mại toàn cầu biến động và các thách thức về an ninh chuỗi cung ứng, gian lận thương mại xuyên biên giới ngày càng gia tăng, Hải quan Việt Nam đang chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, thúc đẩy hiện đại hóa quản lý, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và nâng cao vị thế tại các diễn đàn hải quan khu vực, toàn cầu.
Lâm Đồng: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam dồn lực đưa sân bay Liên Khương mở lại ngày 19-8

Lâm Đồng: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam dồn lực đưa sân bay Liên Khương mở lại ngày 19-8

Chiều 4/8, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) làm việc với UBND tỉnh Lâm Đồng và các hãng hàng không về kế hoạch phục hồi hoạt động bay đến địa phương.