Thứ sáu 15/05/2026 01:37
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Bộ Công Thương đề xuất cơ chế xử lý gần 45.000 tỷ đồng lỗ lũy kế của EVN qua giá điện

Bộ Công Thương đề xuất cơ chế xử lý gần 45.000 tỷ đồng lỗ lũy kế của EVN qua giá điện

Bộ Công Thương đề xuất bổ sung cơ chế cho phép phân bổ các khoản chi phí sản xuất, cung ứng điện chưa được tính đủ vào giá bán lẻ điện ở các kỳ điều chỉnh tiếp theo. Đây được xem là một trong những giải pháp xử lý khoản lỗ lũy kế gần 45.000 tỷ đồng của EVN sau giai đoạn giá đầu vào tăng mạnh nhưng giá điện chưa kịp điều chỉnh tương ứng.
Bộ Xây dựng đề xuất nâng “room” ngoại tại hãng hàng không lên 49%

Bộ Xây dựng đề xuất nâng “room” ngoại tại hãng hàng không lên 49%

Bộ Xây dựng tiếp tục đề xuất nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các hãng hàng không Việt Nam từ 34% lên tối đa 49%, nhằm mở rộng khả năng huy động vốn, tăng sức cạnh tranh và tạo dư địa thu hút thêm nguồn lực quốc tế cho ngành hàng không trong giai đoạn phục hồi và tăng trưởng mới.
Khơi thông nguồn lực đất đai tạo động lực tăng trưởng kinh tế hai con số

Khơi thông nguồn lực đất đai tạo động lực tăng trưởng kinh tế hai con số

Việc sửa đổi Luật Đất đai cùng xử lý dự án tồn đọng được kỳ vọng mở khóa nguồn lực lớn, tạo cú hích cho tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026–2030.
Chủ tịch nước công bố 9 Luật mới: Hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh "nhẹ gánh" tiền thuế

Chủ tịch nước công bố 9 Luật mới: Hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh "nhẹ gánh" tiền thuế

Ngày 13/5, Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về 9 luật vừa được Quốc hội khóa XVI thông qua. Đáng chú ý, Luật sửa đổi các sắc thuế Thu nhập cá nhân, GTGT, Thu nhập doanh nghiệp và Tiêu thụ đặc biệt sẽ chính thức có hiệu lực từ 1/1/2026, mang tới "luồng sinh khí mới" cho hơn 2,5 triệu hộ kinh doanh và gần 240.000 doanh nghiệp nhỏ nhờ những thay đổi mang tính đột phá về ngưỡng chịu thuế.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á thúc đẩy cơ chế dự trữ năng lượng, lương thực trước rủi ro từ Trung Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á thúc đẩy cơ chế dự trữ năng lượng, lương thực trước rủi ro từ Trung Đông

Trước nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng và lương thực do xung đột tại Trung Đông, các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang đẩy nhanh thảo luận về cơ chế kho dự trữ dầu khu vực, mở rộng hợp tác an ninh năng lượng và xây dựng phương án ứng phó khẩn cấp đối với lương thực, phân bón.
Chính sách mạnh mở lối tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 bứt phá rõ nét

Chính sách mạnh mở lối tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 bứt phá rõ nét

Nền kinh tế Việt Nam năm 2026 cho thấy khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu, khi các chính sách mới phát huy hiệu quả, tạo động lực tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và mở ra chu kỳ phát triển bền vững hơn.
Bộ Xây dựng đề xuất kéo dài bảo hành tự nguyện, siết chặt trách nhiệm nhà thầu

Bộ Xây dựng đề xuất kéo dài bảo hành tự nguyện, siết chặt trách nhiệm nhà thầu

Đề xuất kéo dài thời gian bảo hành công trình được ủng hộ nhưng cần đi kèm cơ chế bảo đảm, tránh rủi ro tài chính và duy trì trách nhiệm chất lượng lâu dài của nhà thầu.
Việt Nam ưu tiên thu hút vốn đầu tư FDI chất lượng cao, tăng liên kết với doanh nghiệp nội địa

Việt Nam ưu tiên thu hút vốn đầu tư FDI chất lượng cao, tăng liên kết với doanh nghiệp nội địa

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng khẳng định, trong bối cảnh dòng vốn đầu tư toàn cầu biến động mạnh, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm quốc gia thu hút FDI hàng đầu ASEAN, đồng thời chuyển mạnh sang chiến lược lựa chọn dự án đầu tư chất lượng cao, công nghệ hiện đại và có khả năng lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp trong nước.
Mở rộng cơ hội đầu tư đường sắt cao tốc Bắc - Nam qua chương trình Roadshow quốc tế

Mở rộng cơ hội đầu tư đường sắt cao tốc Bắc - Nam qua chương trình Roadshow quốc tế

Bộ Xây dựng chuẩn bị tổ chức Roadshow quốc tế nhằm khảo sát thị trường, thu hút đối tác và lựa chọn đơn vị tư vấn lập báo cáo khả thi cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam.
Việt Nam cập nhật nhiều điểm mới trong quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa tại WTO

Việt Nam cập nhật nhiều điểm mới trong quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa tại WTO

Ngày 11 - 12/5, Ủy ban Quy tắc xuất xứ của Tổ chức Thương mại thế giới tổ chức phiên họp thường kỳ tại Geneva, với sự tham gia của các nước thành viên nhằm trao đổi về thực thi quy tắc xuất xứ và thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục biến động.
Quan hệ kinh tế Việt - Hàn: Điện hạt nhân và bán dẫn trở thành động lực tăng trưởng mới

Quan hệ kinh tế Việt - Hàn: Điện hạt nhân và bán dẫn trở thành động lực tăng trưởng mới

Ngay sau chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống Hàn Quốc, Hội thảo "Tăng cường hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh mới" tại Seoul đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược bằng những cam kết đột phá. Việc dịch chuyển trọng tâm sang điện hạt nhân, chip bán dẫn và AI không chỉ là bước đi đón đầu kỷ nguyên số mà còn khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn công nghệ hàng đầu xứ sở Kim chi.
Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác tài chính, hướng tới mục tiêu thương mại 10 tỷ USD

Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác tài chính, hướng tới mục tiêu thương mại 10 tỷ USD

Ngày 12/5, tại Viêng Chăn, Thứ trưởng Trần Quốc Phương và Thứ trưởng Bộ Tài chính Lào Su-li-vặt Su-văn-na-chum-khăm, đồng thời là Phó Chủ tịch Ủy ban Hợp tác Lào – Việt Nam, đã đồng chủ trì phiên họp hai Ủy ban Hợp tác Việt Nam – Lào nhằm rà soát tiến độ triển khai các nội dung hợp tác song phương trong năm 2026.
Thống nhất hướng tuyến metro kết nối sân bay Long Thành, rút ngắn thời gian di chuyển

Thống nhất hướng tuyến metro kết nối sân bay Long Thành, rút ngắn thời gian di chuyển

TP. Đồng Nai và TP.HCM đã thống nhất hướng tuyến metro kết nối sân bay Long Thành, mở ra khả năng di chuyển chỉ hơn 30 phút, tạo bước đột phá hạ tầng giao thông vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Hà Nội - Vientiane giữ vai trò “đầu tàu” hợp tác chiến lược trong quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt - Lào

Hà Nội - Vientiane giữ vai trò “đầu tàu” hợp tác chiến lược trong quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt - Lào

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn ưu tiên quan hệ hữu nghị đặc biệt với Lào, nhấn mạnh vai trò đầu tàu hợp tác giữa Hà Nội và Vientiane trong giai đoạn mới.
Mở “đường băng” ưu đãi cho công nghệ cao cất cánh

Mở “đường băng” ưu đãi cho công nghệ cao cất cánh

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng khốc liệt, việc xây dựng một hệ sinh thái ưu đãi đủ mạnh cho lĩnh vực công nghệ cao