Thứ năm 29/10/2026 21:58
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đặt mục tiêu bàn giao 98% mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trong tháng 11

Hải Phòng đẩy nhanh giải phóng mặt bằng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, phấn đấu bàn giao 97–98% diện tích trong tháng 11/2026, hoàn thành trước ngày 15/12/2026.
Quốc hội bàn giải pháp khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quốc hội bàn giải pháp khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tiếp cận vốn và hỗ trợ pháp lý là những vấn đề được đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ khi thảo luận dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm bảo đảm chính sách hỗ trợ sát thực tiễn, hạn chế chồng chéo và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển bền vững.
Chính phủ thúc đẩy kết nối nguồn lực kiều bào với phát triển đất nước

Chính phủ thúc đẩy kết nối nguồn lực kiều bào với phát triển đất nước

Chính phủ ban hành Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW, tập trung hoàn thiện chính sách, thu hút nhân tài, phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài và tăng cường gắn kết cộng đồng kiều bào với quê hương.
Việt Nam – Trung Quốc kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị

Việt Nam – Trung Quốc kết nối sản xuất, logistics và chuỗi giá trị

Kết nối sản xuất, logistics là trọng tâm hợp tác Việt Nam – Trung Quốc tại Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2026. Với lợi thế công nghiệp, cảng biển và thị trường rộng mở, TP. Hồ Chí Minh có cơ hội thúc đẩy chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp cần giảm chi phí vận tải, tiếp nhận công nghệ và đáp ứng tiêu chuẩn xanh để nâng giá trị.
Số hóa dữ liệu đất đai: Mỗi thửa đất có một mã định danh duy nhất

Số hóa dữ liệu đất đai: Mỗi thửa đất có một mã định danh duy nhất

Cả nước hiện có 44 triệu thửa đã kết nối với VNeID. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) hướng tới chuẩn hóa dữ liệu đất đai, cắt giảm giấy tờ và đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
47 dự thảo nghị quyết được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Sáu HĐND thành phố

47 dự thảo nghị quyết được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Sáu HĐND thành phố

Sáng 29/10, HĐND TP.Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026–2031 khai mạc Kỳ họp thứ sáu (Kỳ họp chuyên đề) tập trung xem xét Quy hoạch tổng thể Thành phố thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm cùng các cơ chế, chính sách và dự án quan trọng.
Quốc hội bàn chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và cơ chế quản lý đất đai

Quốc hội bàn chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và cơ chế quản lý đất đai

Ngày 29/10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, sử dụng đất và chính sách hỗ trợ khu vực doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
TP. Hồ Chí Minh xây dựng niềm tin để hút vốn quốc tế

TP. Hồ Chí Minh xây dựng niềm tin để hút vốn quốc tế

Trung tâm tài chính quốc tế TP. Hồ Chí Minh muốn thu hút dòng vốn toàn cầu cần xây dựng niềm tin bằng thể chế minh bạch, quy định ổn định và cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả. Bài toán quan trọng là kết nối nguồn vốn với hạ tầng, năng lượng, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh của Việt Nam.
Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Tại phiên thảo luận chiều 28/10 về dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị phát triển nhà ở sát nhu cầu, khả năng chi trả của người dân; đồng thời hoàn thiện cơ chế bố trí quỹ đất, giá thuê và chuyển nhượng nhà ở xã hội nhằm ngăn chặn trục lợi chính sách.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Giá nhà ở xã hội hiện dao động khoảng 15–29 triệu đồng/m², tùy địa phương và đặc điểm từng dự án. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, chi phí xây dựng, hạ tầng, vật liệu và lãi vay là những yếu tố tạo nên sự chênh lệch này.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Tại phiên đối thoại trực tiếp giữa Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 ngày 28/10, Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam chủ động thích ứng với những chuyển dịch của kinh tế thế giới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng, đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu gồm công nghệ, công nghiệp bền vững và kết nối quốc tế. Với doanh nghiệp Việt Nam, cơ hội nằm ở việc nâng năng suất, gia tăng giá trị sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào năng lực thực thi và khả năng tiếp cận nguồn lực.
Bộ trưởng Bộ Công Thương: Không thể buộc người tiêu dùng chia sẻ dữ liệu cá nhân để dùng dịch vụ

Bộ trưởng Bộ Công Thương: Không thể buộc người tiêu dùng chia sẻ dữ liệu cá nhân để dùng dịch vụ

Tại phiên thảo luận ở Quốc hội sáng 28/10, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết dự thảo luật sửa đổi các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo hướng tăng quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết tranh chấp.
Thái Nguyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ: Đưa chính sách vào năng lực cạnh tranh

Thái Nguyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ: Đưa chính sách vào năng lực cạnh tranh

Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Kế hoạch số 463/KH-UBND ngày 13/10/2026 về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ giai đoạn 2026–2030. Chính sách hướng tới kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, viện nghiên cứu, trường đại học và các đơn vị cung ứng công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp cải thiện quy trình sản xuất, quản trị và phát triển sản phẩm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác chiến lược, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác chiến lược, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới

Tại Phiên toàn thể cấp cao Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác trọng tâm với các đối tác quốc tế, từ phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo nhân lực công nghệ đến thử nghiệm công nghệ chiến lược và huy động nguồn vốn dài hạn.