Thứ hai 02/02/2026 05:30
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế thuê giám đốc doanh nghiệp Nhà nước

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xây dựng cơ chế thuê giám đốc doanh nghiệp Nhà nước

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giao Bộ Nội vụ xây dựng cơ chế thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc, tổng giám đốc trong doanh nghiệp Nhà nước, nhằm thu hút nhân tài, nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong bối cảnh mới.
Mục tiêu 50 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2030

Mục tiêu 50 doanh nghiệp nhà nước lọt nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2030

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo triển khai Nghị quyết 79, yêu cầu hành động nhanh, tháo gỡ điểm nghẽn, xây dựng doanh nghiệp nhà nước quy mô khu vực và toàn cầu.
Từ châu Á sang châu Phi, EU: Bộ Công Thương mở rộng “bản đồ” cho gạo Việt năm 2026

Từ châu Á sang châu Phi, EU: Bộ Công Thương mở rộng “bản đồ” cho gạo Việt năm 2026

Xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2025 đạt 8,06 triệu tấn, kim ngạch 4,1 tỷ USD, giảm mạnh do nhu cầu suy yếu và cạnh tranh toàn cầu. Năm 2026, Bộ Công Thương đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, mở rộng thị trường, thúc đẩy gạo chất lượng cao.
Hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, khu vực tư nhân bứt tốc

Hơn 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, khu vực tư nhân bứt tốc

Làn sóng gia nhập thị trường tăng mạnh ngay những ngày đầu năm 2026, đưa tổng số doanh nghiệp đang hoạt động vượt mốc một triệu. Đằng sau con số này là hiệu ứng rõ nét từ các chính sách “cởi trói” thể chế, cắt giảm thủ tục và giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm không gian phát triển cho kinh tế tư nhân – khu vực đang đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng, ngân sách và đầu tư xã hội.
Hội nghị Công nghệ WCO 2026: Hải quan toàn cầu tìm lời giải cho thế giới nhiều biến động

Hội nghị Công nghệ WCO 2026: Hải quan toàn cầu tìm lời giải cho thế giới nhiều biến động

Diễn ra từ ngày 28–30/01/2026 tại Abu Dhabi (UAE), Hội nghị và Triển lãm Công nghệ của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong việc giúp các cơ quan Hải quan nâng cao năng lực thích ứng, bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu trong bối cảnh chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp.
Bí thư Đặc khu Phú Quốc: Tạo điều kiện tốt nhất để người dân giao đất xây dự án APEC

Bí thư Đặc khu Phú Quốc: Tạo điều kiện tốt nhất để người dân giao đất xây dự án APEC

Theo ông Lê Quốc Anh, APEC 2027 là sự kiện chính trị quan trọng và giúp Phú Quốc phát triển bền vững kinh tế, du lịch. Trong công tác thu hồi đất, địa phương luôn đảm bảo lợi ích của người dân.
Việt Nam cần hơn 77 tỷ USD cho ngành năng lượng giai đoạn 2026-2030

Việt Nam cần hơn 77 tỷ USD cho ngành năng lượng giai đoạn 2026-2030

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, đồng thời thực hiện các cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng được xác định là ưu tiên chiến lược hàng đầu. Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy năng lượng tái tạo và tháo gỡ điểm nghẽn về vốn đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn 2026-2030.
Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, điện gió ngoài khơi cùng hệ thống lưu trữ năng lượng được kỳ vọng trở thành trụ cột mới của ngành điện Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng hàng trăm GW, yếu tố quyết định vẫn là khung chính sách ổn định, dài hạn và đủ sức hấp dẫn dòng vốn quy mô lớn, đặc biệt từ nhà đầu tư quốc tế.
Nâng cấp quan hệ Việt Nam – EU: Đòn bẩy cho chuyển đổi xanh và kinh tế biển

Nâng cấp quan hệ Việt Nam – EU: Đòn bẩy cho chuyển đổi xanh và kinh tế biển

Việt Nam – EU nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở ra giai đoạn hợp tác mới về thương mại, chuyển đổi xanh, công nghệ và an ninh.
Việt Nam – Mỹ dự kiến đàm phán phiên thứ 6 về hiệp định thương mại đối ứng

Việt Nam – Mỹ dự kiến đàm phán phiên thứ 6 về hiệp định thương mại đối ứng

Việt Nam và Mỹ dự kiến bước vào phiên đàm phán thứ 6 về Hiệp định Thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng ngay trong tuần tới, với kỳ vọng tạo chuyển biến tích cực, thúc đẩy tiếp cận thị trường và hài hòa lợi ích song phương.
Bộ Công Thương công bố bức tranh công nghiệp, thương mại năm 2025 tại họp báo quý IV

Bộ Công Thương công bố bức tranh công nghiệp, thương mại năm 2025 tại họp báo quý IV

Sáng 29/1, Bộ Công Thương đã tổ chức họp báo thường kỳ quý IV/2025 và gặp mặt báo chí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Buổi họp báo do Nguyễn Sinh Nhật Tân, Thứ trưởng Bộ Công Thương, chủ trì.
Việt Nam – châu Âu chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện

Việt Nam – châu Âu chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện

Trưa 29/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Lương Cường và Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa đã chủ trì cuộc gặp gỡ báo chí, thông báo kết quả hội đàm và chính thức công bố việc Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, theo Thông tấn xã Việt Nam.
Từ cây xóa đói đến ngành tỷ USD: Vì sao sắn Việt Nam chưa phát triển bền vững?

Từ cây xóa đói đến ngành tỷ USD: Vì sao sắn Việt Nam chưa phát triển bền vững?

Với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,3 tỷ USD trong năm 2025, Việt Nam hiện là quốc gia xuất khẩu sắn lớn thứ ba toàn cầu, chỉ sau Thái Lan, và từng bước trở thành trung tâm chế biến sắn có quy mô lớn nhất khu vực. Thế nhưng, ẩn sau thành công ấy là những thách thức ngày càng hiện hữu, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu đặt ra các yêu cầu khắt khe hơn về truy xuất nguồn gốc và bảo vệ rừng. Để vượt qua “nút thắt” này, ngành sắn Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch, bài bản và bền vững.
Tổng Bí thư Tô Lâm: Định hướng Quảng Ninh trở thành hình mẫu phát triển xanh, hiện đại

Tổng Bí thư Tô Lâm: Định hướng Quảng Ninh trở thành hình mẫu phát triển xanh, hiện đại

Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu Quảng Ninh xây dựng Chương trình hành động rõ lộ trình, nguồn lực, chọn việc lớn làm đến cùng, tiên phong thí điểm các mô hình phát triển chiến lược.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Xuất khẩu hệ sinh thái nông nghiệp phải lượng hóa mục tiêu để bứt phá

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Xuất khẩu hệ sinh thái nông nghiệp phải lượng hóa mục tiêu để bứt phá

Theo Thứ trưởng Hoàng Trung, xuất khẩu hệ sinh thái nông nghiệp phải chọn đúng trọng tâm, lượng hóa hiệu quả và có lộ trình hành động rõ ràng, nhằm giúp Việt Nam chuyển từ bán nông sản sang cung cấp giải pháp.