Thứ ba 22/09/2026 22:36
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho phát triển kinh tế biển, qua đó mở rộng khả năng huy động nguồn lực đầu tư, nhưng vẫn phải bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, sinh thái và quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

UBND TP. Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức tại xã Bình Giã với quy mô 32 ha và tổng vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng. Dự án được kỳ vọng góp phần hoàn thiện hạ tầng công nghiệp, thu hút doanh nghiệp sản xuất, đồng thời hỗ trợ di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hoan nghênh những tiến triển tích cực trong đàm phán, hướng tới sớm ký kết Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, tạo khuôn khổ ổn định, lâu dài cho quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, logistics không còn đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ mà đang trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là thông điệp nổi bật được đưa ra tại Diễn đàn Logistics Vùng lần thứ 7 năm 2026 diễn ra tại Hải Phòng.
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Đề án hiện đại hóa hệ thống ngân hàng đến năm 2030 là định hướng mở rộng cách đánh giá doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn vay có thể được xem xét dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền và dữ liệu thanh toán, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm.
R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

Cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng và lãnh đạo R3 Lithium mở ra câu chuyện lớn hơn về vật liệu pin và chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược. R3 Lithium cho biết doanh nghiệp quan tâm khả năng hợp tác với các đối tác Việt Nam trong chuyển đổi xanh, đặc biệt ở công nghệ pin, tái chế và xử lý khoáng sản thiết yếu.
TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

Tại Kỳ họp thứ 5 (Kỳ họp chuyên đề)HĐND thành phố yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, ngân sách và đất đai được đặt song song với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mở rộng không gian và tạo động lực phát triển mới cho thành phố.
Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Việc Việt Nam được dự báo vượt mốc 2.000 tỷ USD GDP tính theo sức mua tương đương (PPP), vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á và lọt nhóm 22 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy quy mô thị trường và sức nặng của nền kinh tế đang gia tăng. Tuy nhiên, phía sau cột mốc đáng chú ý ấy còn là bài toán về năng suất, thu nhập bình quân đầu người và chất lượng tăng trưởng.
Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Dư nợ tín dụng đã vượt 20 triệu tỷ đồng, nhưng nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn lớn hơn nhiều. Khi các dự án hạ tầng, đô thị và sản xuất cần nguồn vốn trung, dài hạn, nền kinh tế phải mở thêm những kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.