Thứ tư 23/09/2026 23:29
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Hải Phòng dựng “lá chắn” an toàn thực phẩm từ gốc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Hải Phòng dựng “lá chắn” an toàn thực phẩm từ gốc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Hải Phòng đang siết chặt quản lý an toàn thực phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe người dân, quyền lợi người tiêu dùng và những thương hiệu ẩm thực truyền thống của thành phố.
ADB nâng dự báo GDP Việt Nam, cảnh báo áp lực lạm phát và tín dụng

ADB nâng dự báo GDP Việt Nam, cảnh báo áp lực lạm phát và tín dụng

Đà tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm giúp Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo GDP Việt Nam năm 2026 lên 7,8%, cao hơn đáng kể mức 7,2% trong dự báo tháng 7. Tuy nhiên, cùng với triển vọng tích cực, ADB lưu ý những sức ép mới từ lạm phát, tỷ giá và tăng trưởng tín dụng.
Điện Biên tìm đối tác Trung Quốc phát triển hạ tầng, logistics, thể thao và nghỉ dưỡng

Điện Biên tìm đối tác Trung Quốc phát triển hạ tầng, logistics, thể thao và nghỉ dưỡng

Điện Biên đang chủ động mở rộng kết nối với cộng đồng doanh nghiệp Trung Quốc, hướng tới các dự án có khả năng tạo chuỗi giá trị và khai thác lợi thế của một tỉnh biên giới. Tại buổi làm việc với Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc, lãnh đạo tỉnh nêu rõ nhu cầu tìm đối tác trong phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp; kinh tế cửa khẩu; logistics; chế biến nông, lâm sản; thể thao và nghỉ dưỡng.
Trí tuệ nhân tạo tăng tốc, lưới điện có theo kịp?

Trí tuệ nhân tạo tăng tốc, lưới điện có theo kịp?

Một cú nhấp chuột xem web, vài câu lệnh cho ChatGPT hay Gemini… tưởng chừng chẳng hề hấn gì đến lưới điện. Nhưng phía sau mỗi câu trả lời của AI là những máy chủ, trung tâm dữ liệu ngốn điện liên tục. Hàng triệu cú nhấp chuột đang tạo nên một loại phụ tải mới.
Việt Nam và Liên Hợp Quốc mở khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031

Việt Nam và Liên Hợp Quốc mở khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031

Chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác tại New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đối tác Liên Hợp Quốc mở ra khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031, hướng trọng tâm vào phát triển bền vững, chuyển đổi số, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển con người và quản trị.
Cải cách tiền lương trước yêu cầu thích ứng với thị trường lao động và già hóa dân số

Cải cách tiền lương trước yêu cầu thích ứng với thị trường lao động và già hóa dân số

Thị trường lao động biến đổi nhanh, cơ cấu việc làm thay đổi, dân số bước vào giai đoạn già hóa và các hình thức việc làm mới xuất hiện đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội theo hướng linh hoạt, bao trùm và bền vững hơn. Đây là những nội dung được đặt ra trong quá trình xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Hơn 255.000 tỷ đồng vốn giao thông chịu áp lực giải ngân

Hơn 255.000 tỷ đồng vốn giao thông chịu áp lực giải ngân

Đến hết tháng 8/2026, các dự án trọng điểm giao thông mới giải ngân 38% kế hoạch vốn. Chính phủ yêu cầu rà soát từng dự án, xử lý điểm nghẽn và điều chuyển vốn nếu không còn khả năng giải ngân đúng tiến độ.
TP. Hồ Chí Minh chuyển từ thu hút dự án sang triển khai đầu tư thực chất

TP. Hồ Chí Minh chuyển từ thu hút dự án sang triển khai đầu tư thực chất

Sau 9 tháng, nhiều chỉ số kinh tế của TP. Hồ Chí Minh tăng mạnh, nhưng áp lực tăng trưởng vẫn dồn vào quý cuối năm. Thành phố đang đặt trọng tâm vào một hướng đi khác: không chỉ thu hút nguồn lực mà phải đưa nguồn lực vào dự án, sản xuất và kinh doanh.
Không gian mới mở đường cho những cực tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh

Không gian mới mở đường cho những cực tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh

Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP. Hồ Chí Minh đang định hình một cấu trúc kinh tế không còn tập trung vào một lõi đô thị duy nhất. Năm cực động lực, các trung tâm vệ tinh và những hành lang liên kết được đặt trong cùng một bài toán: mở thêm dư địa cho dòng vốn và các ngành kinh tế mới.
Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho phát triển kinh tế biển, qua đó mở rộng khả năng huy động nguồn lực đầu tư, nhưng vẫn phải bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, sinh thái và quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

UBND TP. Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức tại xã Bình Giã với quy mô 32 ha và tổng vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng. Dự án được kỳ vọng góp phần hoàn thiện hạ tầng công nghiệp, thu hút doanh nghiệp sản xuất, đồng thời hỗ trợ di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hoan nghênh những tiến triển tích cực trong đàm phán, hướng tới sớm ký kết Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, tạo khuôn khổ ổn định, lâu dài cho quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, logistics không còn đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ mà đang trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là thông điệp nổi bật được đưa ra tại Diễn đàn Logistics Vùng lần thứ 7 năm 2026 diễn ra tại Hải Phòng.
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Đề án hiện đại hóa hệ thống ngân hàng đến năm 2030 là định hướng mở rộng cách đánh giá doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn vay có thể được xem xét dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền và dữ liệu thanh toán, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm.