Thứ sáu 04/09/2026 05:38
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn và mở thêm dư địa cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026.
Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công, xử lý dự án tồn đọng và những tác động từ bên ngoài vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành trong những tháng cuối năm.
Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Ở chiều chi, đầu tư phát triển tiếp tục là điểm nhấn khi tăng 35,4%, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi các nhiệm vụ an sinh, quốc phòng, an ninh và trả nợ được bảo đảm.
Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

8 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 18,5%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng tới 55,4%, cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố.
Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Khi các khu kinh tế, khu công nghiệp, đặc khu và địa phương có nhu cầu hợp tác xuyên biên giới ngày càng lớn, dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) đặt ra một cách tiếp cận mới, mở rộng không gian hợp tác nhưng phải đi cùng dữ liệu, trách nhiệm và kiểm soát rủi ro.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 8/2026, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua, cho thấy hoạt động sản xuất đang có sự phục hồi và mở rộng trên diện rộng.
Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Từ phát triển chuỗi cung ứng, logistics đến công nghệ, năng lượng xanh và tài chính, Việt Nam đề xuất 5 định hướng trọng tâm nhằm đưa hợp tác kinh tế Nga - ASEAN từ tiềm năng sang những dự án, dòng thương mại và đầu tư cụ thể, có kết quả đo lường được.
Quy hoạch TP. Hồ Chí Minh và bài toán 800 tỷ USD

Quy hoạch TP. Hồ Chí Minh và bài toán 800 tỷ USD

Quy hoạch tầm nhìn 100 năm mở ra không gian tăng trưởng lớn cho TP. Hồ Chí Minh. Nhưng 800 tỷ USD vào năm 2050 sẽ không đến từ mở rộng không gian, mà từ năng lực tạo ra giá trị mới.
Sân bay Long Thành bước vào chặng nước rút trước ngày vận hành thử

Sân bay Long Thành bước vào chặng nước rút trước ngày vận hành thử

Khoảng 80% giá trị sản lượng đã được thực hiện, Dự án sân bay Long Thành đang bước vào giai đoạn hoàn thiện quyết định tiến độ vận hành. Các nhà thầu được yêu cầu tăng nhân lực, hoàn tất hồ sơ, nghiệm thu và chuẩn bị cho các đợt vận hành thử từ tháng 9.
Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 đạt 10,12%, quy mô kinh tế năm 2025 đứng thứ 9/34 tỉnh, thành phố và vốn FDI lũy kế hơn 26 tỷ USD. Với nền tảng này, bài toán của Tây Ninh trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là thu hút thêm vốn, mà là biến lợi thế sau hợp nhất thành những dự án có công nghệ, năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng thực chất.
Lâm Đồng thúc đẩy liên kết phát triển du lịch 5 địa phương ven biển

Lâm Đồng thúc đẩy liên kết phát triển du lịch 5 địa phương ven biển

Ngày 29/8, UBND phường Mũi Né, Lâm Đồng phối hợp với các xã, phường liên quan tổ chức Hội nghị xúc tiến, quảng bá và liên kết phát triển du lịch Mũi Né - Phú Thủy - Phan Thiết - Tiến Thành - Hòa Thắng năm 2026, nhằm tăng cường kết nối điểm đến, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng không gian phát triển du lịch.
Hải Phòng siết chặt quản lý bến bãi ven sông: Tổng rà soát bến bãi, chấm dứt hoạt động các trường hợp không đủ điều kiện

Hải Phòng siết chặt quản lý bến bãi ven sông: Tổng rà soát bến bãi, chấm dứt hoạt động các trường hợp không đủ điều kiện

Hải Phòng đang triển khai cuộc rà soát toàn diện đối với hoạt động bến, bãi ven sông, hướng tới mục tiêu đến năm 2028, 100% bến bãi đủ điều kiện pháp lý, hoạt động đúng quy hoạch và không để phát sinh bến bãi trái phép mới.
Hà Nội: Thu ngân sách vượt 520.000 tỷ đồng, tín dụng tăng hơn 13%

Hà Nội: Thu ngân sách vượt 520.000 tỷ đồng, tín dụng tăng hơn 13%

Sau 8 tháng năm 2026, Hà Nội ghi nhận tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 521.300 tỷ đồng, bằng 80,2% dự toán và tăng 8,9% so với cùng kỳ. Cùng thời điểm, dư nợ tín dụng trên địa bàn tăng 13,05% so với cuối năm 2025, cho thấy dòng vốn tiếp tục được mở rộng để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Thắp sáng kinh tế đêm, Hải Phòng khai mở “điểm hẹn không ngủ” giữa trái tim thành phố

Thắp sáng kinh tế đêm, Hải Phòng khai mở “điểm hẹn không ngủ” giữa trái tim thành phố

Tối 28/8, tại Quảng trường Nhà hát thành phố, Hải Phòng chính thức khai mạc Phố đi bộ ẩm thực đêm và chuỗi hoạt động phát triển kinh tế ban đêm. Không chỉ mở ra một không gian trải nghiệm mới cho người dân và du khách, sự kiện còn đánh dấu bước đi quan trọng trong hành trình xây dựng thương hiệu đô thị hiện đại, năng động và giàu bản sắc của thành phố Cảng.