Thứ tư 29/07/2026 01:06
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Đề xuất trao thêm quyền xây dựng thể chế cho đô thị đặc biệt

Đề xuất trao thêm quyền xây dựng thể chế cho đô thị đặc biệt

Dự thảo Luật Phát triển đô thị đề xuất mở rộng thẩm quyền cho các đô thị đặc biệt trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm xử lý các vấn đề đặc thù phát sinh từ thực tiễn. Cơ chế này đi kèm các yêu cầu chặt chẽ về kiểm soát quyền lực, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Sân bay Long Thành dự kiến vận hành thử từ tháng 9, hướng tới khai thác từ 1/12

Sân bay Long Thành dự kiến vận hành thử từ tháng 9, hướng tới khai thác từ 1/12

Cảng Hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) giai đoạn 1 dự kiến bước vào giai đoạn vận hành thử nghiệm trong 3 tháng, từ tháng 9 đến hết tháng 11/2026, trước khi chính thức đưa vào khai thác từ ngày 1/12. Các hạng mục trọng điểm hiện đang được gấp rút hoàn thiện và chạy thử đồng bộ.
Từ quyết tâm đến hành động: Hải Phòng ban hành nghị quyết chuyên đề, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 13%/năm

Từ quyết tâm đến hành động: Hải Phòng ban hành nghị quyết chuyên đề, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 13%/năm

Không chỉ đặt ra mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng còn mở ra một chương trình hành động toàn diện, với những giải pháp cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng nhằm tạo bước đột phá cho kinh tế thành phố trong 6 tháng cuối năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030.
Đề xuất giao Sơn La làm chủ quản cao tốc CT.03, thúc đẩy tiến độ toàn tuyến

Đề xuất giao Sơn La làm chủ quản cao tốc CT.03, thúc đẩy tiến độ toàn tuyến

Dự án cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên dài 182 km, vốn 63.120 tỷ đồng, được đề xuất giao Sơn La làm cơ quan chủ quản nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Phải tạo chuyển biến thực chất để gỡ "thẻ vàng" IUU trong năm 2026

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Phải tạo chuyển biến thực chất để gỡ "thẻ vàng" IUU trong năm 2026

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương mở đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU), hoàn thành kế hoạch khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC), tạo chuyển biến rõ nét trước ngày 31/8, quyết tâm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" trong năm 2026.
Điều đáng lo không phải thuế 12,5% mà là sức ép kéo dài với doanh nghiệp Việt

Điều đáng lo không phải thuế 12,5% mà là sức ép kéo dài với doanh nghiệp Việt

Việc Hoa Kỳ áp thuế bổ sung đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu đang tạo ra áp lực mới với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), thách thức lớn nhất không nằm ở mức thuế hiện hành mà ở khả năng chính sách này sẽ duy trì trong thời gian dài, buộc doanh nghiệp phải thay đổi chiến lược cạnh tranh và đầu tư.
Ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Mô hình quản trị đặc thù cho các Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng vừa chính thức được định hình. Việc ban hành Quy chế hoạt động mới không chỉ làm rõ thẩm quyền điều hành mà còn mở đường cho các cơ chế vượt trội về tài chính, tuyển dụng và trả lương theo thị trường nhằm thu hút dòng vốn cùng nhân tài toàn cầu.
APEC định vị dữ liệu là nguồn lực chiến lược, mở ra động lực tăng trưởng mới cho kinh tế số

APEC định vị dữ liệu là nguồn lực chiến lược, mở ra động lực tăng trưởng mới cho kinh tế số

Lần đầu tiên, các nền kinh tế thành viên APEC thống nhất coi dữ liệu là nguồn lực chiến lược thay vì chỉ là đối tượng quản lý. Sự thay đổi trong tư duy này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng năng suất và tạo động lực tăng trưởng mới cho kinh tế số trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Điểm mới từ Hội nghị Trung ương 3: Chính sách phải đi cùng năng lực thực thi

Điểm mới từ Hội nghị Trung ương 3: Chính sách phải đi cùng năng lực thực thi

Không chỉ ban hành các quyết sách lớn, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương còn đặt ra yêu cầu mới trong tổ chức thực hiện. Tinh thần xuyên suốt là mọi chủ trương phải được triển khai bằng cơ chế rõ ràng, trách nhiệm cụ thể và được đánh giá bằng kết quả thực tế, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đề xuất cơ chế đặc thù cho khu đô thị lấn biển Đà Nẵng hơn 400.000 tỷ đồng

Đề xuất cơ chế đặc thù cho khu đô thị lấn biển Đà Nẵng hơn 400.000 tỷ đồng

Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết dự án khu đô thị lấn biển Đà Nẵng được quy hoạch với quy mô khoảng 1.500 ha, tổng vốn đầu tư trên 400.000 tỷ đồng, hướng tới hình thành một đô thị biển hiện đại tầm cỡ quốc tế, tạo không gian phát triển mới cho thành phố. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị đánh giá toàn diện tác động của các cơ chế đặc thù, đặc biệt là những chính sách liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài và quốc phòng, an ninh.
Đề xuất cơ chế đặc thù cho siêu đô thị lấn biển 400.000 tỷ tại Đà Nẵng

Đề xuất cơ chế đặc thù cho siêu đô thị lấn biển 400.000 tỷ tại Đà Nẵng

Dự án được định hướng phát triển trở thành khu đô thị biển hiện đại, tầm cỡ quốc tế, với diện tích khoảng 1.500 ha, quy mô vốn đầu tư trên 400.000 tỷ đồng.
TP. Hồ Chí Minh sẽ có Khu Thương mại tự do hơn 4.100 ha kết nối siêu cảng Cái Mép Hạ

TP. Hồ Chí Minh sẽ có Khu Thương mại tự do hơn 4.100 ha kết nối siêu cảng Cái Mép Hạ

Với quy mô hơn 4.174 ha, Khu Thương mại tự do TP. Hồ Chí Minh được quy hoạch gắn với cụm cảng Cái Mép Hạ và hệ thống hạ tầng giao thông chiến lược. Mô hình này được kỳ vọng mở rộng không gian phát triển logistics, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tăng sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Dòng tiền đang chảy về đâu trong đầu tư hạ tầng giao thông?

Dòng tiền đang chảy về đâu trong đầu tư hạ tầng giao thông?

Dòng vốn đầu tư hạ tầng giao thông đang có sự dịch chuyển rõ nét, tập trung vào các dự án trọng điểm, ưu tiên hiệu quả và tính lan tỏa, trong bối cảnh áp lực vốn, lãi suất và yêu cầu minh bạch ngày càng gia tăng.
Đề xuất đầu tư cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng gần 29.300 tỷ đồng

Đề xuất đầu tư cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng gần 29.300 tỷ đồng

Để xuất đầu tư dự án cao tốc Bắc Kạn – Cao Bằng quy mô gần 29.300 tỷ đồng đang được hoàn thiện hồ sơ, kỳ vọng mở trục kết nối chiến lược, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đông Bắc.
Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Đổi tên Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không đơn thuần là sửa vài chữ trong một văn bản pháp luật. Điều quan trọng hơn là thay đổi tư duy làm chính sách, từ "hỗ trợ" sang "tạo cơ hội" để doanh nghiệp tự lớn lên bằng năng lực của mình.