Thứ năm 23/04/2026 13:37
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
Cần hình thành doanh nghiệp “xương sống” để tạo trụ đỡ tăng trưởng bền vững

Cần hình thành doanh nghiệp “xương sống” để tạo trụ đỡ tăng trưởng bền vững

Để duy trì mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn, nền kinh tế Việt Nam cần sớm hình thành doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực công nghệ và sức cạnh tranh quốc tế đóng vai trò “xương sống”, theo ý kiến của đại biểu Đỗ Chí Nghĩa tại phiên thảo luận tị Quốc hội sâng 23/4.
Vay vàng trong dân: Cảnh báo rủi ro “vàng hóa” và nguy cơ bất ổn thị trường

Vay vàng trong dân: Cảnh báo rủi ro “vàng hóa” và nguy cơ bất ổn thị trường

Đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng trong dân do Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đưa ra đang gây nhiều tranh luận, song đa số ý kiến chuyên gia đều bày tỏ quan ngại về rủi ro hệ thống và khả năng tái diễn tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế nếu cơ chế này được triển khai.
Việt Nam giữ vai trò đối tác ODA trọng điểm của Hàn Quốc trong nông nghiệp

Việt Nam giữ vai trò đối tác ODA trọng điểm của Hàn Quốc trong nông nghiệp

Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc tiếp tục đi vào chiều sâu, lĩnh vực nông nghiệp nổi lên như một trụ cột hợp tác đáng chú ý khi Việt Nam được xác định là đối tác ODA trọng điểm, kéo theo hàng loạt cơ hội về công nghệ, thị trường và chuỗi giá trị.
Đề xuất nâng ngưỡng miễn thuế hộ kinh doanh lên 3 tỷ đồng: Cân nhắc mở rộng dư địa, giảm gánh nặng chi phí

Đề xuất nâng ngưỡng miễn thuế hộ kinh doanh lên 3 tỷ đồng: Cân nhắc mở rộng dư địa, giảm gánh nặng chi phí

Tại phiên thảo luận sáng 23/4, Quốc hội đã cho ý kiến về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế, trong đó nội dung về ngưỡng miễn thuế hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nhận được nhiều quan tâm, với đề xuất đáng chú ý là nâng mức miễn thuế lên khoảng 3 tỷ đồng/năm nhằm phù hợp hơn với thực tiễn.
Việt Nam - Hàn Quốc trao 12 văn kiện hợp tác, nổi bật điện hạt nhân và công nghệ

Việt Nam - Hàn Quốc trao 12 văn kiện hợp tác, nổi bật điện hạt nhân và công nghệ

Chiều 22/4, sau hội đàm tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung đã cùng chứng kiến lễ trao 12 văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành và doanh nghiệp hai nước, trải rộng từ an ninh, khoa học - công nghệ, sở hữu trí tuệ đến năng lượng, y tế và văn hóa.
Đồng Nai trước “bước ngoặt lịch sử”: Hướng tới cực tăng trưởng mới của nền kinh tế

Đồng Nai trước “bước ngoặt lịch sử”: Hướng tới cực tăng trưởng mới của nền kinh tế

Việc Quốc hội thảo luận thành lập Đồng Nai trực thuộc Trung ương không chỉ là quyết định hành chính đơn thuần, mà được nhìn nhận như một bước tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia. Các đại biểu kỳ vọng, với nền tảng sẵn có và cơ chế phù hợp, Đồng Nai sẽ trở thành cực tăng trưởng mới, dẫn dắt kinh tế cả nước.
Đầu tư hơn 8.900 tỷ mở rộng 12 tuyến tránh, nút giao quốc lộ 1 giai đoạn mới

Đầu tư hơn 8.900 tỷ mở rộng 12 tuyến tránh, nút giao quốc lộ 1 giai đoạn mới

Dự án nâng cấp, mở rộng 12 tuyến tránh và nút giao trên QL1 từ Đà Nẵng đến Vĩnh Long được đề xuất với tổng vốn hơn 8.900 tỷ đồng, nhằm giảm tải giao thông, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng: Gỡ nút thắt đất đai, thúc đẩy tăng trưởng

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng: Gỡ nút thắt đất đai, thúc đẩy tăng trưởng

Trước Quốc hội, Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng làm rõ định hướng tái cơ cấu nông nghiệp, mở rộng xuất khẩu, phát triển hạ tầng và bảo đảm an ninh lương thực giai đoạn 2026–2030 với nhiều giải pháp đột phá.
Bộ Tài chính đề xuất giải pháp hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số

Bộ Tài chính đề xuất giải pháp hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số

Trước mục tiêu tăng trưởng trên 10%, Bộ Tài chính đề xuất loạt giải pháp đồng bộ từ cải cách thuế, đầu tư công đến phát triển thị trường vốn, nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và thúc đẩy kinh tế bứt phá mạnh mẽ.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng: Xử lý thực phẩm bẩn “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong xử lý vi phạm

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng: Xử lý thực phẩm bẩn “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong xử lý vi phạm

Trước những lo ngại của đại biểu Quốc hội về tình trạng thực phẩm “bẩn” len lỏi vào bữa ăn, đặc biệt là trong trường học, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm sai phạm với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, đồng thời hoàn thiện thể chế và bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Giá nhà Hà Nội, TP.HCM gấp 25-30 lần thu nhập, đại biểu Quốc hội đề nghị đánh phí lũy tiến

Giá nhà Hà Nội, TP.HCM gấp 25-30 lần thu nhập, đại biểu Quốc hội đề nghị đánh phí lũy tiến

Giá nhà tại Hà Nội và TP.HCM đã lên tới 25-30 lần thu nhập bình quân năm, vượt xa ngưỡng được xem là lành mạnh theo thông lệ quốc tế. Trước thực trạng này, đại biểu Quốc hội đề nghị siết đầu cơ bằng công cụ kinh tế, trong đó tính phí lũy tiến với nhà, đất thứ hai không đưa vào sử dụng.
Đại biểu Quốc hội đề xuất tăng lương cơ sở lên 2,7 triệu đồng từ 1/7

Đại biểu Quốc hội đề xuất tăng lương cơ sở lên 2,7 triệu đồng từ 1/7

Cho rằng mức lương cơ sở dự kiến 2,53 triệu đồng mỗi tháng từ ngày 1/7 mới chỉ đáp ứng mục tiêu ổn định chứ chưa đủ bảo đảm đời sống, đại biểu Quốc hội Thạch Phước Bình đề xuất nâng lên 2,65-2,7 triệu đồng để thu hẹp khoảng cách thu nhập, giảm áp lực chi tiêu và tăng động lực cho khu vực công.
Đề xuất tăng lương cơ sở lên 2,65 - 2,7 triệu đồng/tháng

Đề xuất tăng lương cơ sở lên 2,65 - 2,7 triệu đồng/tháng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu tập trung thảo luận toàn diện về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và định hướng 5 năm tới. Đáng chú ý, đề xuất nâng lương cơ sở lên mức 2,65 - 2,7 triệu đồng/tháng được đưa ra nhằm cải thiện thực chất đời sống khu vực công.
Siết kỷ luật tài chính công: Có thể tạm dừng chi ngân sách với đơn vị chậm báo cáo

Siết kỷ luật tài chính công: Có thể tạm dừng chi ngân sách với đơn vị chậm báo cáo

Nghị định số 140/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành cho phép Bộ Tài chính tạm dừng chi ngân sách đối với các đơn vị không cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin tài chính. Quy định mới được kỳ vọng nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công.
Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh: Hạ tầng giao thông bứt phá mở không gian tăng trưởng kinh tế

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh: Hạ tầng giao thông bứt phá mở không gian tăng trưởng kinh tế

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông đang trở thành trụ cột chiến lược giúp Việt Nam mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy liên kết vùng và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn mới.