Thứ bảy 12/09/2026 16:04
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Cấp bách việc quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ

12/10/2020 00:00
Đây là nhận định của nhiều tham luận tại Hội thảo “Thực trạng, thách thức trong quản lý và sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam” do Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chiều ngày 28/8, tại Hà Nội.

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

700 triệu USD nhập thuốc trừ sâu và trừ bệnh từ Trung Quốc

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn. Thuốc trừ cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó dùng trên lúa là nhiều nhất.

Ông Hồ Xuân Hùng - Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - dẫn số liệu của Viện Tài nguyên môi trường quốc tế nêu rõ: Khối lượng hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1ha cây trồng/năm ở Việt Nam cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Cụ thể, con số này ở Việt Nam là 2kg/ha, trong khi tại Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha và Senegan chỉ là 0,2kg/ha. Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát.

Ông Hồ Xuân Hùng nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Để quản lý, sử dụng thuốc trừ cỏ một cách hiệu quả, theo ông Nguyễn Xuân Hồng, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuốc theo hướng chặt chẽ, đủ sức răn đe, có thể áp dụng kỹ thuật camera giám sát việc sử dụng thuốc trên đồng ruộng để phát hiện vi phạm và xử lý nghiêm. Bên cạnh đó, cùng với loại bỏ các thuốc độc hại cần bố trí kinh phí và thực hiện việc đánh giá, phát hiện các thuôc kém chất lượng, hiệu lực thấp để có cơ sở khoa học và thực tiễn loại bỏ khỏi Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và kinh doanh thực vật sẽ được ban hành, cần có nghị định và thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế số lượng hoạt chất trong Danh mục; hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới…Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Liên quan đến vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Xuân Hồng - nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) – cho hay: Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường. Thuốc trừ cỏ không chỉ được sử dụng trên đồng ruộng mà còn được sử dụng trên đất không trồng trọt.

Ông Nguyễn Xuân Hồng đánh giá: Những năm gần đây, lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng trong sản xuất có xu hướng ngày càng tăng. Pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc bảo vệ thực vật cũng từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế. Người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen. Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.

Hiện nay, danh mục thuốc trừ cỏ được phép sử dụng tại Việt Nam gồm 234 hoạt chất và hỗn hợp các hoạt chất với 713 tên thương phẩm.Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao.

Nhiều ý kiến được đưa ra tại hội thảo đề nghị phối hợp chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông, hợp tác xã để đẩy mạnh vai trò của các chương trình hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách an toàn hiệu quả

Bản chất thuốc trừ cỏ không gây hại nếu sử dụng đúng - đây là thông điệp được nhắc nhiều lần tại hội thảo này. Theo CropLife Việt Nam, thời gian trung bình để có được một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó có thuốc trừ cỏ, từ giai đoạn nghiên cứu, cấp phép đến khi ra thị trường hiện nay là 11 năm với tổng chi phí khoảng 286 triệu đô la Mỹ. Điều này cho thấy giai đoạn nghiên cứu và phát triển rất khắc nghiệt, nhằm đảm bảo sản phẩm cuối cùng là hiệu quả, an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường. “Mặc dù, các hoạt động đào tạo, tập huấn nông dân của CropLife chưa thể tiếp cận tới tất cả 10 triệu nông hộ trên cả nước, nhưng chúng tôi vẫn đang nỗ lực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đối tác có liên quan để thúc đẩy hiệu quả các chương trình này, trong đó chiến lược là triển khai các chương trình theo ngành hàng, chuỗi giá trị. Chúng tôi mong muốn có thể tiếp cận và mang các chương trình này tới khoảng 1 triệu nông dân trong năm 2020” – ông Bùi Kịp, đại diện CropLife Việt Nam - khẳng định.

Nguyễn Hạnh

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh vươn tới tầm nhìn 100 năm bằng siêu đô thị đa cực

TP. Hồ Chí Minh vươn tới tầm nhìn 100 năm bằng siêu đô thị đa cực

TP. Hồ Chí Minh đang xây dựng một cấu trúc phát triển mới trên không gian hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. Mô hình siêu đô thị đa cực, các hành lang liên kết chiến lược cùng hệ thống giao thông đa tầng được kỳ vọng mở rộng không gian tăng trưởng và nâng khả năng chống chịu của đô thị trong 50-100 năm tới.
Doanh nghiệp phải chuyển từ “bán được hàng” sang tham gia chuỗi giá trị

Doanh nghiệp phải chuyển từ “bán được hàng” sang tham gia chuỗi giá trị

Thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh có cấu trúc, kéo theo sự sắp xếp lại chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, doanh nghiệp Việt không thể chỉ cạnh tranh bằng giá và sản lượng, mà phải nâng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và xây dựng thương hiệu để giữ lại nhiều hơn giá trị trong chuỗi.
Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội mở rộng đầu tư tại Cần Thơ

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội mở rộng đầu tư tại Cần Thơ

Cần Thơ đang được doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá có nhiều dư địa để mở rộng đầu tư, nhờ nguồn nhân lực, thị trường và vị trí trung tâm vùng. Tuy nhiên, thành phố cần tiếp tục cải thiện hạ tầng khu công nghiệp, điện, thoát nước và môi trường đầu tư để đón dòng vốn mới.
TP. Hồ Chí Minh tăng tốc tái cấu trúc khu công nghiệp

TP. Hồ Chí Minh tăng tốc tái cấu trúc khu công nghiệp

Không chỉ mở rộng quỹ đất, TP. Hồ Chí Minh đang đẩy nhanh tái cấu trúc khu công nghiệp theo hướng sinh thái, thông minh, công nghệ cao và tích hợp logistics, nhằm nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam đề xuất kết nối nguồn lực, củng cố an ninh năng lượng APEC

Việt Nam đề xuất kết nối nguồn lực, củng cố an ninh năng lượng APEC

Việt Nam đề xuất các nền kinh tế APEC tăng cường kết nối công nghệ, vốn, hạ tầng và nhân lực, xây dựng hệ thống năng lượng linh hoạt, có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc, đồng thời bảo đảm an ninh cung ứng, kiểm soát chi phí và thúc đẩy chuyển dịch xanh.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tái cơ cấu hệ thống phân phối xăng dầu

Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tái cơ cấu hệ thống phân phối xăng dầu

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu cơ cấu lại hệ thống phân phối xăng dầu theo hướng giảm tối đa khâu trung gian, khắc phục tình trạng mua bán lòng vòng, kiểm soát chi phí và ngăn ngừa lợi ích nhóm, gian lận, trục lợi.
40,63 tỷ USD FDI vào Việt Nam mở thêm cửa nào cho doanh nghiệp Việt?

40,63 tỷ USD FDI vào Việt Nam mở thêm cửa nào cho doanh nghiệp Việt?

FDI vào Việt Nam đạt 40,63 tỷ USD sau 8 tháng, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Đằng sau dòng vốn này là một thị trường lớn cho nhà cung cấp trong nước, nhưng cơ hội không tự đến nếu doanh nghiệp Việt không nâng chuẩn để tham gia chuỗi sản xuất.
Nhập siêu tăng mạnh, phần lớn dòng tiền đang chảy vào sản xuất

Nhập siêu tăng mạnh, phần lớn dòng tiền đang chảy vào sản xuất

Nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh trong năm 2026, song phía sau con số này là một cơ cấu nhập khẩu đáng chú ý. Máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện chiếm phần lớn kim ngạch, cho thấy nhu cầu mở rộng sản xuất đang kéo theo nhu cầu nhập đầu vào rất lớn.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Cắt giảm thủ tục phải thực chất, không để phát sinh thêm ở địa phương

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Cắt giảm thủ tục phải thực chất, không để phát sinh thêm ở địa phương

Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu quá trình sửa đổi đồng thời Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản phải bảo đảm đồng bộ, khả thi, thực sự cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, không để tình trạng “trên bộ giảm, dưới địa phương tăng”.
TP. Hồ Chí Minh chạy nước rút cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

TP. Hồ Chí Minh chạy nước rút cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Thu ngân sách tăng mạnh, đầu tư công cải thiện và số doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục tăng đang tạo nền tảng cho TP. Hồ Chí Minh hướng tới mục tiêu GRDP từ 10% trở lên trong năm 2026.
18.276 tỷ đồng tại Dự án sân bay Long Thành chưa thanh toán, áp lực dồn chặng cuối

18.276 tỷ đồng tại Dự án sân bay Long Thành chưa thanh toán, áp lực dồn chặng cuối

Dự án sân bay Long Thành đang bước vào giai đoạn quyết định để hoàn thành và khai thác cuối năm 2026, nhưng một lượng lớn khối lượng xây lắp đã thực hiện vẫn chưa được thanh toán. Chính phủ yêu cầu các cơ quan liên quan xử lý nhanh điểm nghẽn này để không ảnh hưởng dòng tiền và tiến độ công trường.
Cần Thơ tính phương án sân bay mới trong không gian phát triển mở rộng

Cần Thơ tính phương án sân bay mới trong không gian phát triển mở rộng

Sau khi mở rộng không gian hành chính, Cần Thơ đang nghiên cứu lại mạng lưới hạ tầng hàng không trong mối liên hệ với cao tốc, cảng biển, đường sắt và logistics. Ba vị trí sân bay mới được đưa vào dự thảo quy hoạch chung để lấy ý kiến, mở ra một bài toán lớn về tổ chức không gian phát triển của thành phố đến giữa thế kỷ.
TP. Hồ Chí Minh mở thêm hành lang giao thông để đón dư địa tăng trưởng mới

TP. Hồ Chí Minh mở thêm hành lang giao thông để đón dư địa tăng trưởng mới

Việc nghiên cứu thêm các tuyến vành đai và cao tốc cho thấy TP. Hồ Chí Minh đang tâm huyết tính toán nhắm kiến lại mạng lưới giao thông theo quy mô không gian phát triển mới, hướng tới kết nối sâu hơn với Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
Phú Quốc tăng tốc hạ tầng để mở lối cho chặng đường du lịch sau APEC 2027

Phú Quốc tăng tốc hạ tầng để mở lối cho chặng đường du lịch sau APEC 2027

Từ sân bay, đường giao thông, điện, nước đến các công trình phục vụ hội nghị, Phú Quốc đang bước vào giai đoạn thi công đặc biệt. Phía sau cuộc chạy đua hoàn thành 21 dự án là mục tiêu lớn hơn: tạo dựng một hạ tầng đủ sức nâng Đảo Ngọc lên tầm điểm đến quốc tế sau APEC 2027.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Hai Trung tâm Tài chính quốc tế phải sớm có thương vụ cụ thể

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Hai Trung tâm Tài chính quốc tế phải sớm có thương vụ cụ thể

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu hai cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng chuyển nhanh từ xây dựng thể chế sang vận hành thực chất, đến tháng 11/2026 phải có sản phẩm, thương vụ cụ thể thay vì chờ hoàn thiện toàn bộ điều kiện mới triển khai.