Chủ nhật 19/07/2026 16:18
Hotline: 024.355.63.010
Bất động sản

Áp lực lạm phát 2022 hiện hữu

13/03/2022 13:25
Các chuyên gia kinh tế cho rằng áp lực lạm phát trong năm 2022 là hiện hữu, nhưng không quá lo ngại và dự báo trong tầm kiểm soát theo mục tiêu đã đề ra. Khi nhiều yếu tố bất ổn đồng thời cùng xảy ra đang đẩy giá nhiều mặt hàng nhiên, nguyên vật liệu

TS. Trương Văn Phước, nguyên quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia chia sẻ: Chắc chắn năm nay lạm phát tăng cao. Với lượng tiền hai năm qua được bơm ra để cứu kinh tế bị ảnh hưởng bởi dịch COVID. Lạm phát toàn cầu được dự báo khoảng 6%, thậm chí vượt hơn mức này. Tăng trưởng kinh tế thế giới trước đây dự báo khoảng 3,9%, hiện nay điều chỉnh còn khoảng 3,4%.

"Lưu ý thêm, sự đứt gãy chuỗi cung ứng các năm rồi là ghê gớm. Xung đột quân sự gây thêm những cản trở để nối lại sự đứt gãy chuỗi cung ứng đó. Đây cũng là một áp lực lên thị trường hàng hóa thế giới" - ông Phước nhấn mạnh.

Nhìn chung 2022 lạm phát toàn cầu tăng lên, tăng trưởng kinh tế giảm xuống, chuỗi đứt gãy cung ứng thế giới khó phục hồi. Câu chuyện xung đột không biết bao giờ kết thúc, có nhiều kịch bản, có ý kiến cho rằng kéo dài trong tháng 3, vài ba tháng, thậm chí có người dự báo xung đột leo thang kéo dài vài ba năm. Điều này chưa biết trước được!

Kinh tế Việt Nam với độ mở lớn, xuất nhập khẩu gấp đôi GDP, như vậy thẩm thấu, tác động ở thế giới là dễ hiểu. Mặt bằng giá tăng cao tạo nên các áp lực về tăng lạm phát của Việt Nam. Ước tính giá xăng tăng lên 10% sẽ tác động khoảng 0,4% lạm phát trong nước. Dù lạm phát không chỉ tính trên giá xăng dầu mà tính trên nhiều mặt hàng nhưng xăng dầu vẫn đóng một vai trò quan trọng. Vì giá xăng dầu tăng sẽ kéo theo giao thông vận tải, vận chuyển lưu thông hàng hóa…

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.

"Lạm phát tại Việt Nam chắc sẽ tăng lên. Có nhiều ý kiến tăng lên cao. Tôi cho rằng, năm 2021 lạm phát trong nước là 1,84%, năm nay ước tính lạm phát khoảng 3,5-3,8%, kiềm chế dưới 4%", ông Phước cho biết.

Việt Nam với dự báo lạm phát khoảng 3,5-3,8%, phụ thuộc vào giá xăng dầu nhưng đồng thời lạm phát ở Việt Nam còn phụ thuộc cách thức điều hành thị trường. Ví dụ thị trường xăng dầu, nhà nước có cơ chế chính sách bình ổn, rồi các sản phẩm dịch vụ công như y tế, giáo dục, giao thông cũng có những chính sách khác. Chúng ta cũng đang thực thi chương trình hỗ trợ kinh tế sau đại dịch theo Nghị quyết 43 của Quốc hội, nhắm vào tăng tổng cung và tổng cầu, phải tạo ra nhiều hàng hóa cho nền kinh tế ấm nóng trở lại. Như vậy cũng chưa biết điều gì xảy ra. Dù giá dầu được dự báo có thể lên 185-200 USD, thậm chí Nga cho rằng có thể lên 300 USD nhưng giá dầu đã điều chỉnh từ mức 130 USD/thùng, sau đó giảm còn 109 USD khi UAE thúc giục OPEC nên tăng sản lượng. Hay giá vàng sau khi vọt lên gần 2.070 USD/oz cũng rớt xuống dưới 2.000 USD.

Như đề cập ở trên, trước khi chưa xung đột quân sự xảy ra, các NHTW đang từng bước thắt chắt chính sách tiền tệ để ngăn ngừa lạm phát. Nhưng nay, xung đột xảy ra có nhiều biến số mới, tín hiệu cho thấy NHTW các nước dè dặt, thận trọng khi thắt chặt chính sách tiền tệ. Cụ thể là việc tăng lãi suất có thể sẽ chậm lại, với liều lượng ít đi vì họ không mong muốn sau đại dịch vốn đã khó khăn, thêm xung đột quân sự làm cho thị trường thế giới chao đảo mà lại thắt chặt tiền tệ sẽ xóa đi hết nỗ lực cố gắng phục hồi nền kinh tế của các chính phủ.

Theo TS. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển thương hiệu và cạnh tranh, ap lực lạm phát đối với nền kinh tế Việt Nam đã xuất hiện từ nửa cuối năm 2021, cơ bản là chi phí đẩy, từ nguồn cung hạn chế, do logistics, do gián đoạn chuỗi cung ứng,…Bước sang năm nay, những vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn.

Yếu tố thứ 2 đè nặng áp lực lên lạm phát là giá dầu, mà trong giai đoạn hiện nay khi giá dầu tiếp tục diễn biến tăng mạnh càng gây lạm phát.

Như vậy, các yếu tố gây lạm phát đều đã có nhưng trở nên nghiêm trọng hơn trong năm nay, nhất là trong tương lai gần.

Một vấn đề nữa mà nhiều quốc gia trên thế giới đều đang phải đối mặt là áp lực lạm phát từ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế nhằm đối phó với những tác động của dịch COVID-19, khi bơm tiền để thúc đẩy quá trình phục hồi và phát triển của nền kinh tế.

Tuy nhiên, với các giải pháp kỹ thuật trong điều hành tiền tệ, huy động nguồn tiền hay hỗ trợ các đối tượng khác nhau thì ít nhiều đã ít nhiều hạn chế được phần nào áp lực lạm phát do các chương trình phục hồi và phát triển.

"Chính vì vậy, các dự báo từ đầu năm đều cho rằng, khả năng lạm phát trung bình của cả năm 2022 sẽ ở mức dưới 4%. Nhưng với tình hình hiện nay, nhất là với cuộc xung đột tại Nga và Ukraine e rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4% là khó có thể đạt được.

Vì vậy, những giải pháp đã tính toán cho chương trình phục hồi và phát triển, nếu muốn đạt được mục tiêu này cần tính toán, cân nhắc kỹ hơn cũng như cần những giải pháp bổ sung để giảm áp lực này. Dĩ nhiên, kết quả cuối cùng, lạm phát có thể là 4% cũng có thể là 5% nhưng ở mức chấp nhận được.

Hiện tại, nhiều giải pháp bổ sung đã được đưa ra để góp phần đẩy lùi áp lực lạm phát như: Khơi thông ách tắc của nguồn cung xăng dầu hoặc đẩy lùi phần nào tác động ghê gớm của việc tăng giá xăng bằng chính sách giảm thuế, phí. Những giải pháp cấp bách trong lúc này sẽ phát huy hiệu quả làm giảm áp lực lạm phát bên cạnh những giải pháp tiền tệ đã được tính toán từ trước" - Ts. Thành nhấn mạnh

Trong khi đó, PGS-TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế - cho rằng kiểm soát lạm phát năm 2022 là không dễ dàng. Theo ông Long, nền kinh tế thế giới đã và dần phục hồi, giá cả hàng hóa đang có xu hướng gia tăng.

"Khi kinh tế phục hồi trong năm 2022 dưới tác động của các gói hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế khiến nhu cầu tiêu dùng, đầu tư gia tăng sẽ gây sức ép không nhỏ lên giá cả. Bên cạnh đó, khả năng điều chỉnh các mặt hàng do Nhà nước quản lý như giá điện, nước, y tế, giáo dục có thể xảy ra, tạo áp lực tăng lạm phát đáng kể đối với Việt Nam"- chuyên gia Ngô Trí Long nhấn mạnh và kiến nghị cần điều hành giá xăng dầu linh hoạt, bám sát diễn biến giá thành phẩm xăng dầu thế giới.

Ông nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê thông tin: Hiện nay, Chính phủ đang khẩn trương triển khai thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội với quy mô 350 nghìn tỷ đồng cùng với các gói hỗ trợ của năm 2021 đang thẩm thấu vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế làm cho tổng cầu tăng đột biến là áp lực rất lớn lên lạm phát trong năm 2022.

Đặc biệt trong gói chính sách tài khoá và tiền tệ 350 nghìn tỷ đồng có tới trên 32% dành cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Thực hiện giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong bối cảnh nguồn cung nguyên vật liệu xây lắp không dồi dào sẽ tạo thêm áp lực lạm phát.

Bên cạnh yếu tố cầu kéo, do đại dịch Covid-19 đã gây ra đứt gãy sản xuất và chuỗi cung ứng, nếu sản xuất không sớm trở lại bình thường, thiếu hụt nguồn cung sẽ đẩy giá cả tăng cao.

Có thể thấy trong năm 2022, áp lực lạm phát của nền kinh tế nước ta xuất phát từ sự kết hợp, cộng hưởng của cả tổng cầu tăng đột biến và nguồn cung khó đáp ứng mức tăng của tổng cầu; trong đó yếu tố thứ hai đóng vai trò chính, lớn hơn trong việc gia tăng lạm phát của nền kinh tế. Nói cách khác, áp lực lạm phát trong năm 2022 của nước ta vừa đến từ vấn đề kinh tế vĩ mô cũng như lạm phát chuỗi cung ứng toàn cầu và chuỗi cung ứng trong nước.

Như vậy, cùng với áp lực lạm phát rất lớn của giá xăng dầu và tổng cầu tăng cao, đột biến, cùng với áp lực lạm phát chuỗi cung ứng trong nước và thế giới, việc kiểm soát lạm phát năm nay khoảng 4% theo mục tiêu Quốc hội đã phê duyệt là không đơn giản.

Ông Lâm cho rằng, để thực hiện thành công mục tiêu lạm phát năm 2022, Chính phủ, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần thực hiện một số giải pháp quan trọng.

Đó là, Chính phủ cần kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, rà soát bãi bỏ các quy định không hợp lý nhằm cắt giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng thúc đẩy tổng cung, giảm áp lực lạm phát.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng; điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường góp phần ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Điều hành chính sách tiền tệ phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với chính sách tài khoá và các chính sách khác.

Bộ Tài chính rà soát, tính toán lại các mức chi phí trong cơ cấu tính giá cơ sở mặt hàng xăng dầu và các loại thuế, phí, nhất là thuế bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm tính đúng, tính đủ, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, người tiêu dùng và doanh nghiệp sử dụng xăng dầu, đảm bảo thực hiện mục tiêu bình ổn thị trường, giảm áp lực lạm phát từ xăng dầu, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.

Bộ Công Thương nắm bắt kịp thời giá xăng dầu thế giới, nâng cao năng lực và chất lượng dự báo, có giải pháp tổng thể đảm bảo đầy đủ nguồn cung xăng dầu dài hạn hơn. Bộ cần kiến nghị với Chính phủ mở rộng, nâng cao năng lực kho dự trữ xăng dầu đáp ứng dài hơn nhu cầu của nền kinh tế, giảm bớt lệ thuộc và tác hại của giá xăng dầu thế giới tăng cao đến sự ổn định và phát triển kinh tế.

Bộ Công Thương và Bộ Tài chính thực hiện minh bạch và đơn giản hoá quy trình thương mại; khuyến khích và đẩy mạnh chia sẻ thông tin về thương mại và giá cả; thúc đẩy cạnh tranh trong nước đối với lĩnh vực logistics, thương mại bán buôn và bán lẻ để giảm chi phí thương mại trong nước và quốc tế, giữ khả năng cạnh tranh và thị phần của hàng hoá Việt trên thị trường thế giới.

Ban Chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ chỉ đạo các bộ liên quan thực hiện hiệu quả và linh hoạt vai trò điều tiết, bình ổn giá các mặt hàng nhà nước quản lý. Quyết định phù hợp thời điểm, mức độ điều chỉnh giá điện, dịch vụ do Nhà nước quản lý tránh gây cộng hưởng lạm phát chi phí đẩy, tạo ra lạm phát kỳ vọng của nền kinh tế.

Cộng đồng doanh nghiệp chủ động chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tiến hành sản xuất kinh doanh, bảo đảm nguồn cung và lưu thông hàng hóa. Đối với các mặt hàng thiếu hụt trong ngắn hạn cần có giải pháp nhập khẩu kịp thời nguyên vật liệu, cắt giảm chi phí sản xuất; đối với các mặt hàng thiếu hụt dài hạn cần chủ động tìm kiếm nguồn hàng và đối tác cung ứng thay thế.

Bên cạnh đó, các cơ quan truyền thông cần thực hiện hiệu quả hoạt động truyền thông nhằm thông tin kịp thời, chính xác và rõ ràng các chính sách, giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, loại bỏ thông tin sai lệch về giá cả thị trường, không để xảy ra hiện tượng lạm phát do tâm lý từ thông tin sai lệch gây ra.

Bích Hằng

Bài liên quan
Tin bài khác
Bài học quốc tế và triển vọng thị trường bất động sản Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh

Bài học quốc tế và triển vọng thị trường bất động sản Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh

Quy hoạch đô thị đa trung tâm, phát triển hạ tầng và hình thành các cực tăng trưởng mới đang tạo nền tảng để thị trường bất động sản Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh bước vào chu kỳ tăng trưởng dài hạn, tương tự những gì Thượng Hải và Seoul đã trải qua.
Nguồn cung nhà ở tăng mạnh, người mua vẫn khó tìm nhà vừa túi tiền

Nguồn cung nhà ở tăng mạnh, người mua vẫn khó tìm nhà vừa túi tiền

Dù gần 100.000 sản phẩm nhà ở được mở bán trong nửa đầu năm 2026, thị trường vẫn thiếu căn hộ giá phù hợp, khi nguồn cung chủ yếu tập trung ở phân khúc cao cấp và hạng sang.
Tạo lập quỹ đất hiệu quả cho phát triển kinh tế xã hội thời kỳ mới

Tạo lập quỹ đất hiệu quả cho phát triển kinh tế xã hội thời kỳ mới

Hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường và khai thác giá trị gia tăng là yêu cầu cấp thiết nhằm phát triển đô thị theo mô hình TOD, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Geleximco được đề xuất

Geleximco được đề xuất 'cầm trịch' dự án sông Nhuệ hơn 75.000 tỷ đồng

Dự án đầu tư xây dựng, tu bổ xung yếu hệ thống đê điều, nạo vét và xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ có tổng mức đầu tư sơ bộ 75.115 tỷ đồng, được thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Theo nghị quyết, Tập đoàn Geleximco là đơn vị được đề xuất thực hiện dự án trong trường hợp lựa chọn nhà đầu tư đặc biệt.
Hà Nội tăng tốc phát triển nhà ở đáp ứng nhu cầu thực và tái cấu trúc

Hà Nội tăng tốc phát triển nhà ở đáp ứng nhu cầu thực và tái cấu trúc

Hà Nội đẩy mạnh phát triển đồng bộ nhà ở xã hội, thương mại và cho thuê, bổ sung nguồn cung lớn, trong khi thị trường dần tái cấu trúc theo nhu cầu ở thực của người dân.
Thị trường bất động sản năm 2026 bước vào giai đoạn thanh lọc và tái định vị giá trị

Thị trường bất động sản năm 2026 bước vào giai đoạn thanh lọc và tái định vị giá trị

Thị trường bất động sản nửa đầu năm 2026 ghi nhận tín hiệu phục hồi nhưng phân hóa mạnh, quá trình thanh lọc diễn ra rõ nét, hướng tới nhu cầu ở thực và phát triển bền vững.
Nguồn cung nhà ở Hà Nội dịch chuyển theo hành lang đô thị mới

Nguồn cung nhà ở Hà Nội dịch chuyển theo hành lang đô thị mới

Thị trường nhà ở Hà Nội đang chuyển dịch mạnh ra khu vực ngoài nội đô, bám theo các hành lang phát triển mới, phù hợp định hướng đô thị đa cực và tăng cường liên kết vùng dài hạn.
Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn mới về quy hoạch đô thị và nông thôn

Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn mới về quy hoạch đô thị và nông thôn

Bộ Xây dựng vừa chính thức ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2026/BXD, thay thế quy chuẩn cũ từ năm 2021, có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
Quy hoạch, hạ tầng và dữ liệu đang định hình lại thị trường bất động sản 2026

Quy hoạch, hạ tầng và dữ liệu đang định hình lại thị trường bất động sản 2026

Thị trường bất động sản Việt Nam đang định hình một chu kỳ phát triển mới, dẫn dắt bởi quy hoạch, hạ tầng, minh bạch thông tin và nhu cầu thực.
Từ đầu cơ đến kiến tạo giá trị: Chu kỳ bất động sản mới đang lựa chọn điều gì?

Từ đầu cơ đến kiến tạo giá trị: Chu kỳ bất động sản mới đang lựa chọn điều gì?

Sau giai đoạn điều chỉnh kéo dài, thị trường bất động sản Việt Nam đang bước vào chu kỳ phục hồi với những động lực hoàn toàn khác so với trước đây. Nếu giai đoạn 2020–2022 được dẫn dắt bởi kỳ vọng tăng giá và tâm lý "đón sóng", thì nửa cuối năm 2026 lại chứng kiến sự dịch chuyển rõ nét của dòng tiền về những tài sản có giá trị sử dụng thực, pháp lý minh bạch, quy hoạch đồng bộ và khả năng khai thác lâu dài.
Hà Nội chuyển hướng phát triển nhà ở cho thuê, mở lối an cư bền vững cho người trẻ

Hà Nội chuyển hướng phát triển nhà ở cho thuê, mở lối an cư bền vững cho người trẻ

Giá nhà tăng cao và nhu cầu cư trú thay đổi đang buộc Hà Nội chuyển hướng sang phát triển nhà ở cho thuê, từng bước hình thành thị trường chuyên nghiệp và đa dạng lựa chọn an cư.
Đồng Nai tăng tốc phát triển nhà ở xã hội, hướng tới 65.000 căn vào năm 2030

Đồng Nai tăng tốc phát triển nhà ở xã hội, hướng tới 65.000 căn vào năm 2030

Đẩy mạnh tháo gỡ điểm nghẽn về quỹ đất, thủ tục đầu tư và áp dụng cơ chế "luồng xanh ưu tiên", Đồng Nai đang tăng tốc triển khai các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân. Địa phương đặt mục tiêu hoàn thành hơn 8.000 căn hộ trong năm 2026, tiến tới xây dựng 65.000 căn vào năm 2030, đáp ứng nhu cầu an cư của người thu nhập thấp và lực lượng lao động tại các khu công nghiệp.
Dòng vốn chuyển hướng, nhà đầu tư ưu tiên “mua đúng” thay vì chạy theo xu hướng

Dòng vốn chuyển hướng, nhà đầu tư ưu tiên “mua đúng” thay vì chạy theo xu hướng

Xu hướng đầu tư năm 2026 cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt khi dòng vốn trở nên chọn lọc hơn, nhà đầu tư không còn chạy theo số lượng mà tập trung vào giá trị dài hạn.
CEO JLL: Giá nhà leo thang không do TOD

CEO JLL: Giá nhà leo thang không do TOD

CEO của JLL lưu ý rằng không nên mặc định mọi dự án bất động sản phát triển theo TOD đều sẽ tạo ra những đợt tăng giá mạnh trong tương lai. TP.HCM đã quy hoạch nhiều khu TOD dọc các tuyến metro và trong khoảng 3 - 5 năm tới, thị trường có thể đón thêm hàng loạt dự án mới với nguồn cung dồi dào khi quy hoạch dần được hoàn thiện.
TP. Hồ Chí Minh: Phường Long Nguyên bước vào giai đoạn hạ tầng mở đường, dòng vốn dịch chuyển

TP. Hồ Chí Minh: Phường Long Nguyên bước vào giai đoạn hạ tầng mở đường, dòng vốn dịch chuyển

Sau nhiều năm tăng trưởng mạnh, mặt bằng giá bất động sản tại khu Đông và khu vực Đông Bắc TP. Hồ Chí Minh đã thiết lập mặt bằng mới. Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng khan hiếm và giá bán liên tục tăng, dòng tiền đầu tư bắt đầu có xu hướng mở rộng theo các hành lang hạ tầng kết nối, hướng về những khu vực còn nhiều dư địa phát triển nhưng đã hình thành các động lực tăng trưởng rõ nét.