Dòng vốn đầu tư nước ngoài đang tăng mạnh đúng vào thời điểm Việt Nam chuyển cách tiếp cận FDI từ thu hút vốn đơn thuần sang lựa chọn những dự án có công nghệ, quản trị, giá trị gia tăng và khả năng liên kết cao.
Với cộng đồng doanh nghiệp Việt, đây là lúc cơ hội mở rộng, nhưng cũng là thời điểm yêu cầu về năng lực cung ứng, tiêu chuẩn sản xuất và quản trị sẽ cao hơn.
50 tỷ USD đến trong 9 tháng
Số liệu do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố cho thấy tính đến ngày 30/9/2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 3.108 dự án mới với 29,24 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 6,2% về số dự án và gấp 2,4 lần về vốn.
![]() |
| Dây chuyền sản xuất công nghiệp tại Việt Nam. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 82,6% vốn FDI thực hiện trong 9 tháng năm 2026 - Nguồn ảnh: Báo Điện tử Chính phủ. |
Điểm đáng chú ý là con số này đã vượt mốc 40 tỷ USD và nhỉnh hơn mức 50 tỷ USD/năm ở ngưỡng cao của mục tiêu bình quân giai đoạn 2026-2030 mà Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra. Nghị quyết xác định giai đoạn 2026-2030 Việt Nam phấn đấu thu hút khoảng 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tương đương 40-50 tỷ USD mỗi năm.
Không chỉ vốn đăng ký tăng, dòng tiền thực tế cũng đang đi vào nền kinh tế. Vốn FDI thực hiện 9 tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 17,40 tỷ USD vốn thực hiện, chiếm 82,6%; bất động sản đạt 1,59 tỷ USD, còn sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 723,4 triệu USD.
Những con số này cho thấy một phần đáng kể dòng vốn đang gắn với năng lực sản xuất thực tế, thay vì chỉ dừng ở giấy chứng nhận đầu tư.
Cửa vào chuỗi cung ứng đang rộng mở
Trong số các dự án FDI cấp mới, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đứng đầu với 13,38 tỷ USD, chiếm 45,8% tổng vốn cấp mới. Vận tải và kho bãi cũng thu hút 5,14 tỷ USD, tương đương 17,6%.
Đây chính là phần thị trường mà doanh nghiệp Việt có thể tìm kiếm cơ hội.
Một nhà máy FDI không chỉ cần mặt bằng và lao động. Phía sau dây chuyền sản xuất còn là hệ thống nhà cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện, bao bì, logistics, bảo trì, phần mềm, dịch vụ kỹ thuật, kiểm định, xử lý môi trường và nhiều dịch vụ chuyên môn khác.
Nếu doanh nghiệp Việt đáp ứng được tiêu chuẩn của những chuỗi này, dòng vốn FDI có thể tạo ra thị trường mới ngay tại Việt Nam.
Nhưng để bước qua cánh cửa đó, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào lợi thế giá rẻ. Năng lực quản trị, chất lượng ổn định, giao hàng đúng hạn, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và khả năng đáp ứng đơn hàng lớn ngày càng trở thành điều kiện quan trọng.
Chính sách đã chuyển sang bài toán liên kết
Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ hướng chuyển từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm những tiêu chí chủ yếu.
![]() |
| Quy mô và tốc độ tăng của dòng vốn cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam vẫn rất lớn. Nhưng cùng lúc, yêu cầu đối với chất lượng FDI cũng đang thay đổi - Ảnh: Báo Điện tử Chính phủ. |
Đáng chú ý, nghị quyết đặt mục tiêu có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia và nâng tỷ lệ nội địa hóa của nhiều ngành lên mức 40-50%.
Đây là thay đổi đáng chú ý đối với khu vực doanh nghiệp trong nước.
Nếu trước đây doanh nghiệp có thể xem FDI chủ yếu là nguồn vốn, nhà máy và thị trường việc làm, thì trong giai đoạn mới, hệ sinh thái FDI được kỳ vọng trở thành một thị trường lớn cho chính doanh nghiệp Việt.
Kế hoạch hành động của Chính phủ tại Nghị quyết 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 cũng yêu cầu phát triển hệ sinh thái công nghiệp trong nước và tăng liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ được đặt ra là khuyến khích doanh nghiệp FDI công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quản trị và lộ trình nội địa hóa.
Doanh nghiệp Việt phải nâng chuẩn trước khi chờ đơn hàng
Vấn đề vì vậy không chỉ là có thêm bao nhiêu dự án FDI, mà là doanh nghiệp trong nước đã sẵn sàng đến đâu.
Một doanh nghiệp muốn trở thành nhà cung ứng cấp 1 hoặc cấp 2 cho tập đoàn đa quốc gia thường phải chứng minh được năng lực sản xuất ổn định, hệ thống quản lý chất lượng, tài chính đủ sức đáp ứng đơn hàng, khả năng truy xuất và kiểm soát rủi ro.
Nghị quyết 280/NQ-CP cũng đặt yêu cầu rà soát, xây dựng danh mục các ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI; đồng thời triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 để hỗ trợ nhà cung ứng trong nước tham gia chuỗi giá trị và tiếp nhận chuyển giao công nghệ.
Điều đó mở ra một hướng đi thực tế cho doanh nghiệp: thay vì chờ chính sách hỗ trợ chung, cần xác định mình có thể cung ứng sản phẩm hoặc dịch vụ nào cho một ngành FDI cụ thể, sau đó đầu tư vào tiêu chuẩn, công nghệ và quản trị tương ứng.
Dòng vốn lớn, cơ hội cũng lớn hơn
9 tháng qua, Singapore dẫn đầu về vốn FDI cấp mới với 9,26 tỷ USD; Hàn Quốc đạt 5,70 tỷ USD, Luxembourg 4,99 tỷ USD, Hồng Công 3,01 tỷ USD, Trung Quốc 2,27 tỷ USD và Nhật Bản 1,56 tỷ USD.
Quy mô và tốc độ tăng của dòng vốn cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam vẫn rất lớn. Nhưng cùng lúc, yêu cầu đối với chất lượng FDI cũng đang thay đổi.
Cục Thuế và cơ quan quản lý đầu tư gần đây đều nhấn mạnh hướng chuyển từ thu hút FDI theo quy mô sang chú trọng chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Với doanh nghiệp Việt, đây có thể là thời điểm đáng để nhìn FDI theo một cách khác: không chỉ là những nhà máy của doanh nghiệp nước ngoài trên đất Việt, mà còn là một thị trường đầu vào khổng lồ cho chính doanh nghiệp trong nước.
50,36 tỷ USD vốn đăng ký trong 9 tháng mới là quy mô của dòng vốn. Giá trị lớn hơn sẽ nằm ở phần doanh nghiệp Việt có thể tạo ra từ dòng vốn ấy - bằng năng lực cung ứng, công nghệ, quản trị và khả năng đi sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.