Thứ bảy 03/10/2026 20:54
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật Hình sự năm 2015

12/10/2020 00:00
Truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại là phù hợp với xu thế phát triển và các công ước Việt Nam đã tham gia, phê chuẩn.

BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 đã thêm điều luật quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) pháp nhân. Đây là một điểm mới tiến bộ, nổi bật của BLHS năm 2015 thể hiện sự thay đổi lớn, mang tính đột phá trong sự phát triển của pháp luật hình sự và nhận thức truyền thống về tội phạm của chúng ta từ trước đến nay.

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã thúc đẩy sự ra đời và hoạt động ngày càng nhiều của các pháp nhân thương mại, tạo ra những động lực to lớn cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, những hành vi vi phạm pháp luật do pháp nhân thực hiện cũng đang diễn ra ngày càng nhiều với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho xã hội. Trong khi đó, việc áp dụng các chế tài hành chính, dân sự đối với các hành vi trái pháp luật của pháp nhân cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, không đủ sức răn đe và giáo dục, nhiều pháp nhân sẵn sàng chịu phạt hoặc bồi thường để tiếp tục vi phạm, làm giảm hiệu lực của công tác quản lý Nhà nước. Do đó, quy định TNHS của pháp nhân là cần thiết, với chế tài nghiêm khắc nhất, thể hiện tính cưỡng chế Nhà nước cao, sẽ có tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa vi phạm pháp luật đối với pháp nhân cao hơn.

Chế định TNHS của pháp nhân là một xu thế phổ biến đã được các nước trên thế giới, như Anh, Mỹ, Cannda, Úc, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sỹ, Trung Quốc…áp dụng. Việc quy định TNHS của pháp nhân cũng phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, hoặc phê chuẩn, như Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (TOC), Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng (UNCAC). Do đó, việc quy định TNHS của pháp nhân thương mại đã đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như công cuộc phòng chống, xử lý tội phạm trong điều kiện của nước ta hiện nay.

Khó khăn khi áp dụng

TNHS của pháp nhân là một vấn đề tương đối phức tạp, đây lại là một chế định hoàn toàn toàn mới, chúng ta chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên những người làm luật cũng đã thể hiện sự thận trọng khi mới chỉ giới hạn chủ thể của tội phạm chỉ là các pháp nhân thương mại (Điều 2 BLHS năm 2015) và phạm vi TNHS của pháp nhân cũng chỉ mới được giới hạn trong một số tội danh nhất định được quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 như: Tội buôn lậu (Điều 188), tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189), tội trốn thuế (Điều 200), tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235), tội huỷ hoại rừng (Điều 243)…

Mặc dù đã có những quy định tương đối rõ ràng và đầy đủ, nhưng việc áp dụng TNHS của pháp nhân cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện hơn hoặc có những quy định hướng dẫn cụ thể và chi tiết hơn.

Theo quy định tại Điều 75 BLHS năm 2015,việc truy cứu TNHS của pháp nhân phải có đầy đủ 4 điều kiện, bao gồm:(1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; và (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định. Tuy nhiên, thực tế việc chứng minh đầy đủ cả 4 điều kiện này là rất khó khăn. Mặt khác, việc pháp nhân thực hiện các hành vi phạm tội không phải lúc nào cũng hội tụ đầy đủ cả 4 điều kiện này như: Hành vi phạm tội có thể được thực hiện nhân danh pháp nhân hoặc theo sự chỉ đạo, điều hành của pháp nhân nhưng cũng chưa chắc đã vì lợi ích của pháp nhân. Ngược lại, có những hành vi được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân nhưng không phải lúc nào cũng nhân danh pháp nhân hoặc thực hiện theo sự chỉ đạo, điều hành của pháp nhân.

Ngoài ra, quy định về điều kiện thứ (3):“Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại” cũng khó xác định, vì thực tế hoạt động của pháp nhân là thông qua người đại diện theo pháp luật (Giám đốc, Chủ tịch HĐQT, Chủ tịch HĐTV,vv…), thông qua các quyết định của các bộ phận có thẩm quyền của pháp nhân (HĐTV, HĐQT, hay Đại hội đồng cổ đông). Pháp nhân không thể trực tiếp điều hành, chỉ đạo các hoạt động của mình.

Mặt khác, những quy định nêu trên vẫn còn mang tính khái quát rất cao nên để có thể thi hành trong thực tiễn thì vẫn cần có những quy định hướng dẫn cụ thể và chi tiết hơn.

Chế tài khi pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố và xét xử

Chúng ta vẫn thường hiểu, nói đến xét xử hình sự là nói đến tội phạm và hình phạt là tù tội. Tuy nhiên, không thể bỏ tù một pháp nhân nên vấn đề chế tài đối với pháp nhân bị xét xử khác với cá nhân (thể nhân) bị xét xử trong vụ án hình sự. Khi pháp nhân thương mại phạm tội thì tùy theo tính chất, mức độ và của hành vi phạm tội mà có thể phải chịu chế tài như: Phạt tiền, tạm đình chỉ hoạt động có thời hạn, tạm đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực hoặc cấm huy động vốn trong một khoảng thời gian.

Tác động của việc xét xử hình sự pháp nhân thương mại

Khi một pháp nhân thương mại bị xét xử thì các chế tài áp dụng có thể ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội, bởi có những pháp nhân có số lượng người lao động rất lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của một vùng thậm chí là ảnh hưởng cả đến việc thu thuế của địa phương nơi pháp nhân hoạt động. Do đó, nhà làm luật cũng cần có những quy định đầy đủ hơn về việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc xử lý TNHS của pháp nhân như: Trong trường hợp pháp nhân bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (Điều 78 và Điều 79 BLHS năm 2015) thì quyền lợi của người lao động, của chủ nợ, các đối tác đang có hợp đồng hợp tác, kinh doanh với pháp nhân này sẽ được giải quyết như thế nào cũng cần phải có những quy định điều chỉnh cụ thể và phù hợp.

Vì vậy, để các quy định về TNHS của pháp nhân thương mại có thể được áp dụng hiệu quả và thống nhất thì chúng ta cần phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữa các quy định này cho phù hợp nhất với thực tiễn.

Luật sư Nguyễn Hồng Bách

Tin bài khác
Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Doanh nghiệp khảo sát, xây dựng trên tuyến hàng hải được chấp thuận trong 10 ngày

Bộ Xây dựng quy định thời hạn chậm nhất 10 ngày làm việc để xử lý hồ sơ chấp thuận hoạt động khảo sát, thăm dò, xây dựng công trình trên tuyến hàng hải, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Quy định mới giúp doanh nghiệp chủ động hơn về tiến độ thủ tục.
Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Việt Nam đặt mục tiêu 8-10 triệu hợp đồng giao dịch hàng hóa phái sinh mỗi năm vào 2030

Bộ Công Thương đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển khoảng 10 mặt hàng nội địa được giao dịch qua Sở Giao dịch hàng hóa, với khối lượng khoảng 8-10 triệu hợp đồng mỗi năm; thu hút 300-500 doanh nghiệp tham gia thị trường.
Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Dự thảo mới: Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, quản lý và vận hành chợ

Bộ Công Thương đề xuất cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn, quản lý và vận hành hạ tầng chợ thông qua liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam, với tỷ lệ góp vốn tối đa 49% vốn điều lệ.
Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Từ đơn vị sự nghiệp công lập sang doanh nghiệp: Những tiêu chí mới cần lưu ý

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 373/2026/NĐ-CP ngày 30/9/2026, quy định việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Quy định mới xác lập rõ đối tượng, nguyên tắc, tiêu chí và hình thức chuyển đổi, trong đó đặt điều kiện quan trọng về khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên của đơn vị trong 2 năm gần nhất.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Giấy phép không phải là “tài sản vĩnh viễn” – rủi ro thu hồi bắt đầu từ một báo cáo bỏ quên

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Giấy phép không phải là “tài sản vĩnh viễn” – rủi ro thu hồi bắt đầu từ một báo cáo bỏ quên

Nghị định 342/2026/NĐ-CP đặt kỷ luật tuân thủ vào vị trí trung tâm khi gắn báo cáo định kỳ và việc duy trì điều kiện kinh doanh với nguy cơ thu hồi giấy phép. Với doanh nghiệp FDI, báo cáo bị bỏ quên có thể thành rủi ro pháp lý.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Giấy phép còn hạn nhưng mỏ vẫn phải dừng – “đường băng pháp lý” của doanh nghiệp nằm ở trữ lượng

Thông tư 54/2026/TT-BCT đặt ra ranh giới pháp lý rõ ràng: giấy phép còn thời hạn không đồng nghĩa doanh nghiệp được tiếp tục khai thác khi đã hết trữ lượng được phép. Điều này buộc doanh nghiệp phải quản trị trữ lượng, hồ sơ điều chỉnh và dòng tiền.
Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Khi tiền thoái vốn được đặt lại trong”đường ống” ngân sách

Nghị định 357/2026/NĐ-CP: Khi tiền thoái vốn được đặt lại trong”đường ống” ngân sách

Nghị định 357/2026/NĐ-CP đặt nguồn thu từ cơ cấu lại vốn nhà nước vào kỷ luật ngân sách, buộc doanh nghiệp tách bạch tiền thương vụ với tiền phải nộp. Dòng vốn sau thoái vốn có thể được tái phân bổ cho doanh nghiệp dẫn dắt, hạ tầng trọng điểm.
Đề xuất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương

Đề xuất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất Bộ Y tế là đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở Trung ương, UBND các cấp chịu trách nhiệm tại địa phương, đồng thời chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Mở thêm điểm bán – “bài kiểm tra thị trường” không chỉ nhìn vào diện tích

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: Mở thêm điểm bán – “bài kiểm tra thị trường” không chỉ nhìn vào diện tích

Nghị định 342/2026/NĐ-CP đặt mở thêm điểm bán của doanh nghiệp có vốn nước ngoài dưới lăng kính kiểm tra nhu cầu kinh tế. Diện tích không phải tiêu chí duy nhất; cạnh tranh, chợ truyền thống, nhu cầu thị trường và an ninh ảnh hưởng quyết định cấp phép.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Mỗi tấn khoáng sản phải có “dấu vết” – khi quản trị mỏ trở thành quản trị dữ liệu

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Mỗi tấn khoáng sản phải có “dấu vết” – khi quản trị mỏ trở thành quản trị dữ liệu

Thông tư 54/2026/TT-BCT đưa quản trị khai thác khoáng sản sang mô hình kiểm soát bằng dữ liệu, nơi sản lượng, sổ sách, thiết bị đo đếm và báo cáo phải thống nhất. Với doanh nghiệp, yêu cầu này tăng trách nhiệm tuân thủ, đồng thời làm rõ rủi ro.
Hàng hóa rủi ro cao từ 1/1/2027 sẽ phải để lại “dấu chân” số

Hàng hóa rủi ro cao từ 1/1/2027 sẽ phải để lại “dấu chân” số

Một lô hàng sẽ không chỉ được nhận diện bằng nhãn hay mã truy vết hiện có. Dữ liệu về sản xuất, lưu thông, hóa đơn, thông quan và các giấy tờ liên quan sẽ từng bước được kết nối để có thể kiểm tra lại hành trình của hàng hóa.
Thông tư 54/2026/TT-BCT: Quản trị tài nguyên bằng dữ liệu và những rủi do doanh nghiệp không thể xem nhẹ

Thông tư 54/2026/TT-BCT: Quản trị tài nguyên bằng dữ liệu và những rủi do doanh nghiệp không thể xem nhẹ

Thông tư 54/2026/TT-BCT định hình cách doanh nghiệp tiếp cận khoáng sản nhóm IV khi năng lực tài chính, chất lượng dữ liệu khảo sát và thời điểm hoàn thiện hồ sơ trở thành yếu tố then chốt. Với doanh nghiệp nhỏ, cuộc đua không chỉ nằm ở tài nguyên.
Nghị định 342/2026/NĐ-CP: “Luật chơi” mới cho bán lẻ, phân phối có vốn nước ngoài

Nghị định 342/2026/NĐ-CP: “Luật chơi” mới cho bán lẻ, phân phối có vốn nước ngoài

Nghị định 342/2026/NĐ-CP mở ra khung pháp lý mới cho hoạt động bán lẻ có vốn nước ngoài, nơi giấy phép, nguồn vốn và cấu trúc kinh doanh gắn chặt hơn. Với doanh nghiệp Việt gọi vốn ngoại, thẩm định pháp lý trước M&A trở thành yêu cầu chiến lược.
Luật Quảng cáo tiếp tục lên bàn nghị sự tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách

Luật Quảng cáo tiếp tục lên bàn nghị sự tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo sẽ được các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cho ý kiến tại Hội nghị lần thứ nhất, nhiệm kỳ khóa XVI. Việc tiếp tục rà soát dự án luật được đặt trong yêu cầu chung về nâng cao chất lượng chính sách, bảo đảm tính thống nhất và khả năng thực thi của pháp luật.
TP. Hồ Chí Minh rút ngắn gần 30% thời gian giải quyết thủ tục đấu nối hạ tầng đường bộ

TP. Hồ Chí Minh rút ngắn gần 30% thời gian giải quyết thủ tục đấu nối hạ tầng đường bộ

UBND TP. Hồ Chí Minh vừa phê duyệt phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Sở Xây dựng, trong đó đáng chú ý là việc cắt giảm gần 30% thời gian giải quyết thủ tục chấp thuận thiết kế nút giao đấu nối vào đường địa phương đang khai thác. Động thái này được kỳ vọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm chi phí tuân thủ và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng trên địa bàn thành phố.