Thứ năm 07/05/2026 07:50
Hotline: 024.355.63.010
Kinh doanh

Tăng trưởng cần tiền

14/10/2020 13:59
Thị trường tài chính và thị trường hàng hóa hoạt động kém hiệu quả tăng nguy cơ bất ổn khi nền kinh tế mở cửa sâu rộng với thế giới.

Tăng trưởng kinh tế trong dài hạn phụ thuộc vào 3 yếu tố: lao động, vốn và công nghệ. Nhưng khi tiết kiệm thấp, độ mở của thị trường vốn còn hạn chế, các kênh đầu tư chưa đa dạng, khoa học tụt hậu, năng lực nâng cấp nguồn nhân lực chưa sẵn sàng, thì những hiệp định thương mại tự do chỉ mang lại lợi ích kinh tế ngắn hạn, còn trong dài hạn lại là nguy cơ cho ngành sản xuất trong nước.

Hai vấn đề bất cân đối

Hiệu quả thích nghi ở góc độ vi mô là cần thiết, nhưng điều kiện để nâng cao được hiệu quả thích nghi là sự phát triển của thị trường vốn, lại là vấn đề vĩ mô. Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 0,5% tổng số doanh nghiệp trong nước, chiếm đến hơn 28% tổng nguồn vốn cả nước, nhưng chỉ tạo ra khoảng 10% việc làm trên hơn 55 triệu việc làm. Như vậy, đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vào phát triển kinh tế là còn khiêm tốn so với các “ưu đãi” và “đặc quyền” chính sách có được, không muốn nói hiện là trở lực cho cải cách.

Nhìn ở góc độ khác, nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại 2 vấn đề bất cân đối, làm méo mó vĩ mô. Thứ nhất là thâm dụng vốn rất lớn ở khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhưng lại không tạo ra việc làm và giá trị đổi mới tương xứng. Thứ 2 là thâm dụng lao động ở khu vực tư nhân nhưng thiếu vốn; thành ra dù tạo ra nhiều việc làm, nhưng lương thấp và có xu hướng sử dụng những công nghệ không thân thiện với môi trường.

Hiệu quả thích nghi rất quan trọng vì thế giới liên tục thay đổi, không đứng yên. Nhưng các thể chế thay đổi và bắt kịp rất chậm. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ luôn chịu rủi ro rằng các thể chế của nơi doanh nghiệp hoạt động sẽ không còn giải quyết được các vấn đề nảy sinh. Cái vi mô nằm trong vĩ mô, và như vậy, sự sáng tạo nỗ lực phát triển của doanh nghiệp là bị giới hạn bởi sự giới hạn phát triển của nền kinh tế lớn. Nói cách khác, một nền kinh tế yếu kém thì không thể có những doanh nghiệp tầm cỡ thế giới.

Hiệu quả thích nghi là một thế giới khuyến khích phương pháp thử - sai, tạo ra các định chế tổ chức mới và sau đó loại bỏ những gì không còn phù hợp và như vậy phải phát triển được thị trường vốn; trong đó có thị trường vốn đầu tư mạo hiểm phát triển mới là bệ phóng tốt cho hoạt động sáng tạo đổi mới kinh doanh.

Cần hiểu là cạnh tranh của ngành ngân hàng tạo ra lãi suất huy động cao hơn cũng dẫn đến tỉ suất lợi nhuận rất thấp cho các ngân hàng. Sự kết hợp giữa hoạt động đầu cơ, cho vay đầy rủi ro và mức lợi nhuận thấp là một công thức thảm họa. Do vậy, vốn tín dụng ngân hàng không bao giờ dành cho các hoạt động cho vay mạo hiểm. Thành ra, phải có thị trường vốn đầu tư mạo hiểm phát triển mới có thể thúc đẩy hoạt động sáng tạo đổi mới, phát triển thị trường mua bán bằng phát minh sáng chế, R&D... Và càng không phải đến từ nguồn vốn tài trợ của Nhà nước.

Tiền là máu, vốn là huyết mạch của nền kinh tế

Không có vốn để phát triển và có vốn nhưng chảy sai chỗ thì cũng dở như nhau. Với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, bài toán vĩ mô không dễ giải quyết luôn là vốn, thất nghiệp và lạm phát. Vòng luẩn quẩn là năng suất lao động và thu nhập thấp, do vậy tiết kiệm và đầu tư thấp. Mặt khác, thị trường tài chính và thị trường hàng hóa hoạt động kém hiệu quả, trong khi nguy cơ bất ổn sẽ lớn hơn khi nền kinh tế mở cửa sâu rộng với thế giới.

Ở Việt Nam, tiết kiệm được chuyển hóa vào bất động sản là chính yếu do những kênh đầu tư khác như vàng, ngoại hối... bị hạn chế. Thị trường chứng khoán, trái phiếu cũng chưa phát huy được chức năng huy động vốn trong dân cho nền kinh tế. Ví dụ, số liệu năm 2017 cho thấy, khi thị trường cổ phiếu của Việt Nam tăng trưởng rất mạnh thì thực tế thị trường chứng khoán chỉ huy động được khoảng 56.000 tỉ đồng, tức khoảng 2,5 tỉ USD theo tỉ giá thời điểm đó và chỉ bằng 3% giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán khi đó vào khoảng 120 tỉ USD.

Cả nước hiện vay nợ ngân hàng hơn 8 triệu tỉ đồng, trong đó dư nợ đối với khối doanh nghiệp là trên 4 triệu tỉ đồng, tổng tài sản của các ngân hàng hiện gần 12 triệu tỉ đồng, xấp xỉ 200% GDP. Như vậy có thể thấy, phần lớn nguồn vốn cho phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào hệ thống tín dụng ngân hàng.

Sau 20 năm, tính đến hết tháng 6.2020, theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổng vốn hóa thị trường chứng khoán đạt mức 5,5 triệu tỉ đồng, bằng 104% GDP năm 2019. Trong đó, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt trên 4 triệu tỉ đồng và vốn hóa thị trường trái phiếu dù có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng vẫn ở mức khiêm tốn... Như vậy, dù có mức vốn hóa thị trường chứng khoán hơn mức trung bình của thế giới, nhưng chất lượng của thị trường vẫn là điều đáng quan tâm. Việt Nam cần hoàn thiện các quy định pháp luật đối với hoạt động thanh toán, phát hành và kinh doanh trái phiếu nhanh hơn nữa mới đáp ứng được nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế qua huy động vốn trong nền kinh tế.

Phẩm chất thực sự của các doanh nghiệp niêm yết được thể hiện qua mức độ phát triển của thị trường trái phiếu với những quy định và điều luật quản lý hiệu quả, có một thị trường đánh giá tín nhiệm độc lập nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, các hoạt động tư vấn phát triển và chuyên nghiệp. Qua đó mới có thể đánh giá năng lực cạnh tranh thực chất của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.

Khi nhìn về tương lai lâu dài, điều nguy hiểm nhất hủy diệt cạnh tranh lành mạnh chính là sự khống chế nguồn vốn của các nhóm lợi ích thông qua hệ thống ngân hàng và công nghiệp. Dưới một hệ thống tiền tệ như vậy, việc các nguồn lực từ ngân hàng tăng hay giảm đều không quan trọng lắm, khi các nguồn lực này vẫn bị khống chế bởi một nhóm nhỏ; tài sản ngân hàng phình to hay thu nhỏ là do nhu cầu của những nhóm này.

Dùng vốn ngoại như FDI để thúc đẩy tăng trưởng, kiến tạo việc làm và cốt lõi nhất là chuyển giao công nghệ là điều đúng đắn. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong khi tích lũy nguồn vốn (tư bản) trong nước (dành cho dài hạn) mà phải đánh đổi môi trường thì có thể là thỏa hiệp được trong thời kỳ đầu, nhưng về lâu dài cần phải thay đổi để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và cân đối hơn.

Nền kinh tế dựa vào ngân hàng và những mặt trái

Một nền kinh tế với dư nợ lớn lại phụ thuộc vào nguồn cung cấp tín dụng mới, mà thiếu nó, các doanh nghiệp phụ thuộc vào vay mượn sẽ phải dừng đầu tư và trong một số trường hợp sẽ phải đóng cửa. Một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào vốn vay, có quá nhiều nghĩa vụ nợ ngắn hạn dễ bị tổn thương hơn so với một nền kinh tế mà thị trường vốn là đa dạng. Một doanh nghiệp có khả năng tăng vốn chủ sở hữu, phát hành được trái phiếu dùng nó để đầu tư sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự giảm sút đột ngột nguồn cung tín dụng của ngân hàng. Chính vì vậy, nhu cầu tự do hóa thị trường vốn hơn nữa, một thị trường chứng khoán, trái phiếu phát triển tương xứng với nhu cầu nâng cấp nền kinh tế là điều cần thiết để đạt được tốc độ phát triển nhanh, bền vững.

Đầu tư cao được thúc đẩy nhờ khởi tạo tín dụng ngân hàng là nguyên nhân cốt lõi của mức tăng trưởng cao tại các nền kinh tế đang phát triển thành công nhất - Nhật và Hàn Quốc trong những năm 1950 và 1980. Bài học của 2 quốc gia này đều không để cho khối tư nhân vốn luôn bị điều khiển bởi các mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (đặc quyền, đặc lợi sinh ra suy thoái) dẫn dắt quyết định việc phân bổ tín dụng ngân hàng. Thay vào đó, họ chủ động hướng tín dụng vào những gì đánh giá là các khoản đầu tư sinh lời với tiềm năng lớn nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tín dụng được ưu tiên dành cho ngành công nghiệp sản xuất, không phải bất động sản; phục vụ cho công nghiệp xuất khẩu, không hướng tới các nhà nhập khẩu hay thương nhân; và nhằm hỗ trợ các ưu tiên chiến lược, ví dụ như phát triển công nghiệp nặng ở Hàn Quốc trong giai đoạn đầu phát triển, ngành công nghiệp chế tạo (điện tử, ô tô...) ở Nhật.

Trong trường hợp Hàn Quốc, sự bùng nổ đầu tư trong giai đoạn 1960-1980 có thể được miêu tả phần nào được tài trợ bằng tiền pháp định: các ngân hàng thương mại đã được Tổng thống Park Chung Hee quốc hữu hóa và Ngân hàng Nhà nước hoạt động dưới sự kiểm soát trực tiếp của Chính phủ, sẵn sàng cung cấp cho các ngân hàng thương mại nguồn vốn gần như vô hạn để cho các nhà xuất khẩu vay tiền với lãi suất thực âm. Nhưng tín dụng ngân hàng được điều hướng không phải là liều thuốc chữa bách bệnh: tại những quốc gia khác như Philippines, Indonesia... lại gây tác hại do nhóm lợi ích thao túng. Tự do hóa thị trường không kiểm soát được cũng dễ bị thao túng, đầu cơ.

Ngoài ra, các ngân hàng lớn có xu hướng thích phục vụ những doanh nghiệp lớn hơn. Trong số hơn 95% doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện nay, có trên 2/3 là doanh nghiệp siêu nhỏ, trong đó đa phần chưa đủ khả năng huy động vốn xã hội như phát hành trái phiếu và chứng khoán hóa. Như vậy, thay vì gom lại thành lớn hết thì nên phát triển những ngân hàng nhỏ, địa phương để phục vụ nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), cấp tín dụng doanh nghiệp cho SME địa phương mới phù hợp nhu cầu phát triển chung. Do là ngân hàng nhỏ nên tính thấu hiểu doanh nghiệp địa phương sẽ cao và như vậy sản phẩm sẽ linh hoạt, hiệu quả hơn, bởi ngân hàng lớn sẽ ưu tiên phục vụ doanh nghiệp lớn hơn, SME sẽ càng khó tiếp cận vốn.

Quyền lực gây tha hóa đạo đức. Khi nguồn vốn của nền kinh tế quá lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng mà cơ chế kiểm soát thiếu hiệu quả, hệ quả là hàng loạt doanh nhân tài năng vào tù, để lại xã hội những đại án gây mất mát hàng tỉ USD và cần nhiều thời gian và tiền bạc của xã hội để xử lý. Do vậy, tự do thị trường vốn là cần thiết cho phát triển, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi phải nâng cấp trình độ quản lý nhà nước, mới có đủ khả năng đối phó tốt với những biến động vĩ mô toàn cầu, khắc chế được các hoạt động thao túng có tổ chức, tấn công tài chính từ bên ngoài ngày càng tinh vi hơn.

Tham nhũng là quốc nạn và mọi biện pháp trừng trị nghiêm khắc là cần thiết nhưng cũng không ít mất mát. Điện tử hóa thanh toán sẽ mang lại hiệu quả chống tham nhũng cao hơn nhiều. Số hóa nền kinh tế sẽ giảm tối đa tội phạm tài chính và tham nhũng; minh bạch hóa hoạt động kinh tế và quản lý nhà nước là nền móng bền vững cho phát triển; kiến tạo hòa bình, dân chủ và thịnh vượng.

Bài viết: Phạm Việt Anh
Ảnh: Quý Hoà

Tin bài khác
Cách triển khai mô hình doanh nghiệp một người thành công tại Mỹ và Trung Quốc

Cách triển khai mô hình doanh nghiệp một người thành công tại Mỹ và Trung Quốc

Khi Nghị quyết số 86/NQ-CP đặt ra mục tiêu đến năm 2045 cứ 10 người dân có 1 người khởi nghiệp, một cuộc cách mạng, người người khởi nghiệp, nhà nhà khởi nghiệp. Câu chuyện quốc gia khởi nghiệp ở Việt Nam đã bước sang một tầng nghĩa mới. Đây không còn là phong trào dành chỉ cho một nhóm startup công nghệ, mà đang dần trở thành một bài toán cấu trúc của nền kinh tế: làm sao để mỗi cá nhân có thể trở thành một đơn vị tạo giá trị thực sự và góp phần vào hệ sinh thái lớn của khởi nghiệp quốc gia. Ở các quốc gia đã thực hiện thành công, họ đã giải bài toán này thế nào.
Mô hình Doanh nghiệp một người: Bài toán lớn của Việt Nam sẽ giải thế nào?

Mô hình Doanh nghiệp một người: Bài toán lớn của Việt Nam sẽ giải thế nào?

Nếu bài toán của thế giới là quản trị một xu hướng đã hình thành, thì Việt Nam là đi trước một bước trong việc thiết kế nó. Khi Nghị quyết số 86/NQ-CP đặt mục tiêu 10 người dân có 1 người khởi nghiệp, điều quan trọng nhất không phải là con số, mà là cách hiểu đúng để giải được bài toán lớn và khó.
Doanh nghiệp Việt sẽ thua ngay nếu không hiểu về "luật chơi" mới trong bối cảnh nhiều đổi thay

Doanh nghiệp Việt sẽ thua ngay nếu không hiểu về "luật chơi" mới trong bối cảnh nhiều đổi thay

Trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn tranh luận về thuế, lãi suất hay sức mua suy giảm, một vấn đề lớn hơn đang âm thầm diễn ra nhưng ít được chú ý, doanh nghiệp Việt đang mất lợi thế không hẳn vì thị trường khó, mà vì chưa theo kịp cách vận hành của hệ thống chính sách và chuẩn mực mới. Khi môi trường kinh doanh ngày càng minh bạch và dựa trên dữ liệu, “hiểu đúng – làm đúng” không còn là yêu cầu phụ trợ, mà đang trở thành năng lực cốt lõi.
Canada siết nhập khẩu gỗ: Doanh nghiệp Việt ứng phó thế nào?

Canada siết nhập khẩu gỗ: Doanh nghiệp Việt ứng phó thế nào?

Canada khởi xướng điều tra tự vệ đối với nhiều sản phẩm gỗ nhập khẩu, mở ra nguy cơ áp dụng biện pháp hạn chế thương mại đối với các doanh nghiệp xuất khẩu.
Dư cung, cạnh tranh bủa vây: Sầu riêng Việt đứng trước ngã rẽ xuất khẩu

Dư cung, cạnh tranh bủa vây: Sầu riêng Việt đứng trước ngã rẽ xuất khẩu

Giá sầu riêng giảm sâu cho thấy không chỉ áp lực dư cung mà còn bộc lộ hạn chế trong kiểm soát chất lượng, đòi hỏi phải siết chặt từ vùng trồng và nâng chuẩn sản phẩm để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu.
Tái cấu trúc ngành lúa gạo: Cơ hội nâng tầm giá trị trong biến động thị trường

Tái cấu trúc ngành lúa gạo: Cơ hội nâng tầm giá trị trong biến động thị trường

Thị trường lúa gạo biến động khó lường đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc chuỗi giá trị, nâng cao năng lực điều tiết và giảm phụ thuộc vào một số thị trường lớn, qua đó củng cố vị thế và giá trị của gạo Việt Nam.
Việt Nam hướng tới 1 triệu “doanh nghiệp một người”: Mở rộng biên độ tăng trưởng từ nền tảng số

Việt Nam hướng tới 1 triệu “doanh nghiệp một người”: Mở rộng biên độ tăng trưởng từ nền tảng số

Chiến lược khởi nghiệp sáng tạo quốc gia đang đặt ra một mục tiêu mới đầy tham vọng: phát triển một triệu “doanh nghiệp một người” vào năm 2030, tận dụng sức mạnh công nghệ số để tái định hình cấu trúc doanh nghiệp và thị trường lao động.
Cổ phiếu BSR "cháy hàng" phiên sáng: Vốn hóa tiến sát 5 tỷ USD sau lãi kỷ lục

Cổ phiếu BSR "cháy hàng" phiên sáng: Vốn hóa tiến sát 5 tỷ USD sau lãi kỷ lục

Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đang trở thành "thỏi nam châm" hút dòng tiền mạnh nhất nhóm dầu khí khi bất ngờ bật tăng kịch trần ngay đầu tuần giao dịch. Không chỉ hưởng lợi từ giá dầu thế giới, sức nóng của mã cổ phiếu tỷ đô này còn đến từ mức lợi nhuận sau thuế đột biến hơn 8.000 tỷ đồng và lộ trình niêm yết lên sàn HOSE đang đi vào giai đoạn nước rút.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Tăng trưởng lệch pha, áp lực giá bủa vây

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 23 tỷ USD: Tăng trưởng lệch pha, áp lực giá bủa vây

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 5,4%. Tuy nhiên, đà tăng thiếu đồng đều giữa ngành hàng và thị trường, trong khi nhiều mặt hàng chịu áp lực giảm giá.
Novaland: Giảm kịch sàn, chốt tại 19.100 đồng/cổ phiếu

Novaland: Giảm kịch sàn, chốt tại 19.100 đồng/cổ phiếu

Phiên giao dịch đầu tiên sau kỳ nghỉ lễ tháng Tư mở ra với diễn biến giằng co bất ngờ: cổ phiếu NVL của Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (Novaland) giảm kịch sàn, chốt tại 19.100 đồng/cổ phiếu.
Novaland lãi 10 tỷ đồng mỗi ngày: Bản lĩnh "vượt bão" và con số thù lao gây bất ngờ

Novaland lãi 10 tỷ đồng mỗi ngày: Bản lĩnh "vượt bão" và con số thù lao gây bất ngờ

Vượt qua những rào cản về pháp lý và dòng tiền, kết quả kinh doanh quý I/2026 của Tập đoàn Novaland (mã NVL) không chỉ là những con số tài chính ấn tượng mà còn là lời khẳng định về sức sống mãnh liệt của doanh nghiệp Việt trước những biến động của thị trường.
Mô hình quản trị gia đình và bài học từ các gia tộc kinh doanh giàu nhất thế giới

Mô hình quản trị gia đình và bài học từ các gia tộc kinh doanh giàu nhất thế giới

Trong hầu hết doanh nghiệp gia đình, người sáng lập không chỉ là người dẫn đường mà còn là trung tâm quyền lực, thủ lĩnh tinh thần, người truyền cảm hứng và định hình văn hóa tổ chức. Nhưng khi doanh nghiệp lớn dần, thách thức không còn nằm ở việc duy trì vai trò trung tâm ấy, mà ở khả năng nâng cấp chính mô hình đã tạo nên thành công ban đầu, để doanh nghiệp có thể vận hành bền vững qua nhiều thế hệ. Làm sao để các thế hệ nối tiếp vận hành hiệu quả hơn, mà không bị những chiếc bóng khổng lồ vô tình tạo rào cản?
Lạm phát 2026 có thể lên 5,5%: Giá dầu, điện tăng, lợi nhuận doanh nghiệp co hẹp ra sao?

Lạm phát 2026 có thể lên 5,5%: Giá dầu, điện tăng, lợi nhuận doanh nghiệp co hẹp ra sao?

Lạm phát năm 2026 đang đứng trước nguy cơ nóng lên rõ rệt khi giá năng lượng toàn cầu biến động mạnh, chi phí logistics gia tăng và nhiều mặt hàng thiết yếu chịu áp lực tăng giá. Với kịch bản lạm phát có thể lên tới 5,5%, doanh nghiệp Việt sẽ đối mặt bài toán khó hơn về chi phí, dòng tiền, lợi nhuận và khả năng duy trì sức cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng khắc nghiệt.
Dồn dập sự kiện dịp lễ 30/4, Vinhomes Royal Island hút khách, kích hoạt hệ sinh thái kinh doanh

Dồn dập sự kiện dịp lễ 30/4, Vinhomes Royal Island hút khách, kích hoạt hệ sinh thái kinh doanh

Khi kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5 cận kề cũng là lúc đảo Vũ Yên bước vào giai đoạn sôi động nhất trong năm. Không chỉ là điểm đến vui chơi, chuỗi sự kiện kéo dài nhiều ngày tại Vinhomes Royal Island đang góp phần định hình một cực tăng trưởng mới cho du lịch, thương mại Hải Phòng, nơi trải nghiệm sống, giải trí và kinh doanh hội tụ trong cùng một không gian.
Chuỗi đồ uống “co mình” để giữ lợi nhuận

Chuỗi đồ uống “co mình” để giữ lợi nhuận

Sau giai đoạn mở rộng ồ ạt, nhiều chuỗi cà phê và trà sữa tại Việt Nam bắt đầu thu hẹp điểm bán, tái cấu trúc hoạt động nhằm bảo toàn lợi nhuận trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.