Thứ năm 24/09/2026 02:08
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Doanh nghiệp phấp phỏng giờ làm thêm

12/10/2020 00:00
Nhiều doanh nghiệp kiến nghị Bộ luật Lao động (sửa đổi) nên giữ nguyên quy định làm việc 48 giờ/tuần, cần xem xét về việc nâng mức thời giờ làm thêm tối đa hằng năm từ 200 giờ lên 400 – 500 giờ/năm với các ngành đặc thù.

Dự kiến ngày 20/9 tới, Ban soạn thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau đó sẽ chính thức trình Quốc hội vào tháng 10/2019. Tuy nhiên, đến nay, dự thảo vẫn tiếp tục nhận được các ý kiến khác nhau về khung giờ làm thêm, thời gian làm việc tiêu chuẩn, lương lũy tiến…

Đề xuất nâng số giờ làm thêm

Tại Hội thảo “Dự thảo Bộ Luật Lao động sửa đổi: Những tác động bất lợi và kiến nghị”, ngày 18/9, bà Trần Thị Lan Anh, Phó Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Giám đốc Văn phòng Giới sử dụng lao động, cho biết Bộ luật Lao động hiện hành đang quy định tổng số giờ làm thêm tối đa trong năm của Việt Nam bị hạn chế ở mức 200 giờ/ năm, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia đang cạnh tranh lao động với Việt Nam.

VCCI kiến nghị không nên quy định giới hạn giờ làm thêm theo tuần, theo tháng, chỉ quy định theo năm; đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không quá 500 giờ/năm, trừ một số ngành nghề, công việc được làm thêm giờ không quá 600 giờ/năm.

Về tiền lương làm thêm giờ, VCCI cho rằng tiền lương làm thêm giờ ở Việt Nam đang cao hơn so với tiền lương làm thêm giờ của nhiều quốc gia khác. Quy định mới sẽ khiến chi phí của doanh nghiệp (DN) tăng cao, khó quản lý, theo dõi và giảm sức cạnh tranh của DN. VCCI đề xuất lương trả cho người lao động làm thêm giờ được tính: vào ngày bình thường ít nhất bằng 150%; vào ngày nghỉ hàng tuần ít nhất bằng 200%; vào ngày nghỉ lễ, tết ít nhất bằng 300%.

Trong khi đó, về thời gian làm việc tiêu chuẩn, ông Bùi Đức Thịnh, Chủ tịch HĐQT CTCP May Sông Hồng, kiến nghị để người lao động làm đủ 48 giờ mỗi tuần. Mặt khác, đề nghị khung làm thêm giờ cho các DN khoảng 450 – 500 giờ/năm là ổn thỏa và đủ an toàn.

“Không ít DN đã phải chịu tổn thất nặng nề vì quy định thời gian làm việc ngặt nghèo ở Việt Nam, hàng nghìn lao động ở các nơi đó đã bị rơi vào thảm cảnh mất việc làm”, ông Thịnh chia sẻ.

Theo phản ánh của các hiệp hội tại Việt Nam như Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Da giày – Túi xách Việt Nam, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, với thời giờ làm việc là 48 giờ/tuần như hiện nay, các máy móc thiết bị trong nhà máy vận hành vẫn có thể đảm bảo công suất, nhưng nếu giảm còn 44 giờ/tuần sẽ khiến cho nhà máy chạy dưới công suất (hoạt động cầm chừng).

Hơn nữa, vào mùa vụ thu hoạch/khai thác là thời điểm hầu hết DN đều thực hiện quá số giờ làm thêm quy định. Bất cập hiện hành còn chưa được khắc phục thì nay nếu quy định về thời giờ làm giảm xuống 44 giờ/tuần có hiệu lực thi hành, chắc chắn DN sẽ tiếp tục vi phạm.

Doanh-nghiep-phap-phong-gio-la-7531-7093
DN lo lắng với đề xuất mới về khung giờ làm thêm, thời gian làm việc tiêu chuẩn

Băn khoăn về bước lùi

Đại diện Hiệp hội DN Nhật Bản tại Việt Nam nhấn mạnh trình độ phát triển, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang ở mức thấp so với các nước trong khu vực, trong khi đa số các nước vẫn duy trì thời gian làm việc tiêu chuẩn là 48 giờ/tuần như Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia, Philippines, Lào…

Nếu cắt giảm thời giờ làm việc tiêu chuẩn, các DN hoặc sẽ phải tổ chức làm thêm giờ hoặc sẽ phải tuyển dụng thêm nhân lực để bù đắp cho phần sản lượng giảm đi. Do đó, chi phí cho sản xuất và nhân công sẽ tăng kéo theo giá thành xuất xưởng của sản phẩm tăng. Các DN nội địa không chịu được áp lực về chi phí sẽ phải thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa, giải thể. Các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) sẽ phải di chuyển sang các nước khác có chi phí nhân công cạnh tranh hơn.

Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới người lao động: người lao động mất việc làm, dẫn đến nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp giật… gây ảnh hưởng vô cùng xấu tới nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Mặt khác, trong bối cảnh cần cân đối và đảm bảo khả năng duy trì việc làm của người lao động, không gia tăng tỷ lệ thất nghiệp và so sánh với việc quy định về thời gian làm thêm tại nhiều nước có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội tương đương Việt Nam, cần xem xét về việc nâng mức thời giờ làm thêm tối đa hằng năm từ 200 giờ lên 300 giờ (đối với các ngành nghề bình thường).

Riêng đối với một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định, người sử dụng lao động có thể tăng số giờ làm thêm từ 400 giờ lên 500 giờ với điều kiện là có nhu cầu kinh doanh chính đáng như các ngành nghề phục vụ xuất khẩu, phục vụ đơn hàng… và được sự đồng ý của người lao động đối với công việc làm thêm giờ.

Ts. Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright Việt Nam, nhận xét dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) không có dáng dấp của các chính sách được tư duy một cách mạch lạc, được đánh giá một cách cẩn trọng và phù hợp với nền kinh tế mới. Nói cách khác, dự thảo này có tư duy tương đối bảo thủ, lạc hậu và nhiều điểm là bước lùi so với Bộ luật Lao động 2012.

Đối với kinh tế thị trường, “nguyên tắc vàng” là Nhà nước chỉ can thiệp khi có thất bại của thị trường. Tuy nhiên, dường như nhà soạn luật lại đang đứng trước góc độ nhà nước phụ mẫu, sợ người lao động làm quá nhiều mà kiệt sức, sợ giới chủ bóc lột lao động… Điều quan trọng là làm sao để hợp đồng/khế ước giữa người chủ lao động và người lao động phải được thực thi chứ không phải Nhà nước ngồi nghĩ thay người lao động và giới chủ sở hữu lao động về giờ làm thêm, tiền lương.

Ts. Vũ Thành Tự Anh lo ngại nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn đang phụ thuộc vào lợi thế lao động giá rẻ, nếu tạo ra Bộ luật Lao động mà không tạo ra thị trường lao động khi đưa ra giới hạn tiền lương, giờ làm thêm… sẽ khiến người lao động Việt Nam lâm vào tình cảnh thất nghiệp.

Các chuyên gia cho rằng Bộ luật Lao động càng chặt, giới chủ và người lao động sẽ tìm cách lách và gây ra chi phí không đáng có cho nền kinh tế.

Thy Lê

Tin bài khác
Hải Phòng dựng “lá chắn” an toàn thực phẩm từ gốc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Hải Phòng dựng “lá chắn” an toàn thực phẩm từ gốc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Hải Phòng đang siết chặt quản lý an toàn thực phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe người dân, quyền lợi người tiêu dùng và những thương hiệu ẩm thực truyền thống của thành phố.
ADB nâng dự báo GDP Việt Nam, cảnh báo áp lực lạm phát và tín dụng

ADB nâng dự báo GDP Việt Nam, cảnh báo áp lực lạm phát và tín dụng

Đà tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm giúp Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo GDP Việt Nam năm 2026 lên 7,8%, cao hơn đáng kể mức 7,2% trong dự báo tháng 7. Tuy nhiên, cùng với triển vọng tích cực, ADB lưu ý những sức ép mới từ lạm phát, tỷ giá và tăng trưởng tín dụng.
Điện Biên tìm đối tác Trung Quốc phát triển hạ tầng, logistics, thể thao và nghỉ dưỡng

Điện Biên tìm đối tác Trung Quốc phát triển hạ tầng, logistics, thể thao và nghỉ dưỡng

Điện Biên đang chủ động mở rộng kết nối với cộng đồng doanh nghiệp Trung Quốc, hướng tới các dự án có khả năng tạo chuỗi giá trị và khai thác lợi thế của một tỉnh biên giới. Tại buổi làm việc với Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc, lãnh đạo tỉnh nêu rõ nhu cầu tìm đối tác trong phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp; kinh tế cửa khẩu; logistics; chế biến nông, lâm sản; thể thao và nghỉ dưỡng.
Trí tuệ nhân tạo tăng tốc, lưới điện có theo kịp?

Trí tuệ nhân tạo tăng tốc, lưới điện có theo kịp?

Một cú nhấp chuột xem web, vài câu lệnh cho ChatGPT hay Gemini… tưởng chừng chẳng hề hấn gì đến lưới điện. Nhưng phía sau mỗi câu trả lời của AI là những máy chủ, trung tâm dữ liệu ngốn điện liên tục. Hàng triệu cú nhấp chuột đang tạo nên một loại phụ tải mới.
Việt Nam và Liên Hợp Quốc mở khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031

Việt Nam và Liên Hợp Quốc mở khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031

Chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác tại New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đối tác Liên Hợp Quốc mở ra khuôn khổ hợp tác mới giai đoạn 2027-2031, hướng trọng tâm vào phát triển bền vững, chuyển đổi số, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển con người và quản trị.
Cải cách tiền lương trước yêu cầu thích ứng với thị trường lao động và già hóa dân số

Cải cách tiền lương trước yêu cầu thích ứng với thị trường lao động và già hóa dân số

Thị trường lao động biến đổi nhanh, cơ cấu việc làm thay đổi, dân số bước vào giai đoạn già hóa và các hình thức việc làm mới xuất hiện đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội theo hướng linh hoạt, bao trùm và bền vững hơn. Đây là những nội dung được đặt ra trong quá trình xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Hơn 255.000 tỷ đồng vốn giao thông chịu áp lực giải ngân

Hơn 255.000 tỷ đồng vốn giao thông chịu áp lực giải ngân

Đến hết tháng 8/2026, các dự án trọng điểm giao thông mới giải ngân 38% kế hoạch vốn. Chính phủ yêu cầu rà soát từng dự án, xử lý điểm nghẽn và điều chuyển vốn nếu không còn khả năng giải ngân đúng tiến độ.
TP. Hồ Chí Minh chuyển từ thu hút dự án sang triển khai đầu tư thực chất

TP. Hồ Chí Minh chuyển từ thu hút dự án sang triển khai đầu tư thực chất

Sau 9 tháng, nhiều chỉ số kinh tế của TP. Hồ Chí Minh tăng mạnh, nhưng áp lực tăng trưởng vẫn dồn vào quý cuối năm. Thành phố đang đặt trọng tâm vào một hướng đi khác: không chỉ thu hút nguồn lực mà phải đưa nguồn lực vào dự án, sản xuất và kinh doanh.
Không gian mới mở đường cho những cực tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh

Không gian mới mở đường cho những cực tăng trưởng của TP. Hồ Chí Minh

Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP. Hồ Chí Minh đang định hình một cấu trúc kinh tế không còn tập trung vào một lõi đô thị duy nhất. Năm cực động lực, các trung tâm vệ tinh và những hành lang liên kết được đặt trong cùng một bài toán: mở thêm dư địa cho dòng vốn và các ngành kinh tế mới.
Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho phát triển kinh tế biển, qua đó mở rộng khả năng huy động nguồn lực đầu tư, nhưng vẫn phải bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, sinh thái và quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

UBND TP. Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức tại xã Bình Giã với quy mô 32 ha và tổng vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng. Dự án được kỳ vọng góp phần hoàn thiện hạ tầng công nghiệp, thu hút doanh nghiệp sản xuất, đồng thời hỗ trợ di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hoan nghênh những tiến triển tích cực trong đàm phán, hướng tới sớm ký kết Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, tạo khuôn khổ ổn định, lâu dài cho quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, logistics không còn đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ mà đang trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là thông điệp nổi bật được đưa ra tại Diễn đàn Logistics Vùng lần thứ 7 năm 2026 diễn ra tại Hải Phòng.
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Đề án hiện đại hóa hệ thống ngân hàng đến năm 2030 là định hướng mở rộng cách đánh giá doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn vay có thể được xem xét dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền và dữ liệu thanh toán, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm.