Thứ bảy 12/09/2026 16:08
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Xử lý các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu và quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng

16/07/2021 10:37
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính có trách nhiệm hướng dẫn các bên ký lại hợp đồng...

Hợp đồng lao động bị vô hiệu

Điều 50 của Bộ luật Lao động quy định rất cụ thể về việc hợp đồng lao động vô hiệu, đây là cơ sở để các bên xem xét khi có xảy ra tranh chấp.

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động..

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động... (Ảnh: minh họa)

Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động trái pháp luật; Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền; Công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc bị pháp luật cấm; Nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cản quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó bị vô hiệu.

Về thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, pháp luật quy định Thanh tra lao động, Toà án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thanh tra lao động tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần

Căn cứ theo Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu được quy định như sau:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong thời gian từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi hợp đồng lao động được sửa đổi, bổ sung thì được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.Trường hợp hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu có tiền lương thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.

Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của hai bên từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP; Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc;

Thời gian làm việc của người lao động theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ

Trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động ký lại hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại thực hiện như sau:– Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu;

Nếu hợp đồng lao động có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của hợp đồng lao động thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020;

Thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Trường hợp không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trường hợp HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của HĐLĐ vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong HĐLĐ là công việc mà pháp luật cấm thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động mới theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi giao kết hợp đồng lao động mới thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020.

Trường hợp hai bên không giao kết hợp đồng lao động mới thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động; Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản;

Người sử dụng lao động trả cho người lao động một khoản tiền do hai bên thỏa thuận nhưng cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng đối với địa bàn người lao động làm việc do Chính phủ quy định tại thời điểm quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Thời gian làm việc của người lao động để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu xác định theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với các hợp đồng lao động trước hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020, nếu có.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và sẽ thay thế cho Bộ luật Lao động 2012 hiện hành. Theo đó, Bộ luật Lao động 2019 đã có những thay đổi nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ việc áp dụng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động

Điều 35, Bộ luật Lao động 2019 quy định về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động đã cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần có lý do mà chỉ cần đáp ứng điều kiện báo trước về thời gian như sau: Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.

Thậm chí, trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động còn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Khoản 2 Điều 35, Bộ Luật lao động 2019 quy định những trường hợp đó bao gồm:

Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này

Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Hà An

Tin bài khác
Bộ Công Thương sửa đổi 5 quy chuẩn an toàn đối với khí dầu hóa lỏng

Bộ Công Thương sửa đổi 5 quy chuẩn an toàn đối với khí dầu hóa lỏng

Thông tư số 46/2026/TT-BCT sửa đổi, bổ sung 5 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong lĩnh vực khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), trong đó đáng chú ý là các yêu cầu mới về kho chứa, chứng nhận hợp quy, kiểm định bồn chứa và giám sát chất lượng chai LPG.
Đề xuất xây dựng luật quản lý thiết bị bay không người lái từ năm 2027

Đề xuất xây dựng luật quản lý thiết bị bay không người lái từ năm 2027

Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét, thông qua 22 dự án luật, trong đó có dự án Luật về phát triển và quản lý thiết bị bay không người lái (UAV) – lĩnh vực đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý, khai thác và bảo đảm an toàn trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh.
Luật mới siết kinh doanh khí cười, mở rộng không gian kinh doanh có kiểm soát

Luật mới siết kinh doanh khí cười, mở rộng không gian kinh doanh có kiểm soát

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư vừa được công bố tạo ra hai chuyển động đáng chú ý: siết một hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng, đồng thời cắt giảm hàng loạt điều kiện kinh doanh để doanh nghiệp có thêm không gian hoạt động.
Tây Ninh: Người phát ngôn không được im lặng trước khủng hoảng thông tin

Tây Ninh: Người phát ngôn không được im lặng trước khủng hoảng thông tin

Lãnh đạo tỉnh Tây Ninh yêu cầu người phát ngôn chuyển từ thế bị động sang chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống để hạn chế khoảng trống thông tin và tin đồn trên không gian mạng.
Nghị định 337/2026/NĐ-CP: Doanh nghiệp biến quyền tiếp cận thông tin thành công cụ quản trị rủi ro

Nghị định 337/2026/NĐ-CP: Doanh nghiệp biến quyền tiếp cận thông tin thành công cụ quản trị rủi ro

Nghị định 337/2026/NĐ-CP quy định thủ tục tiếp cận thông tin, tạo cơ sở để doanh nghiệp đưa dữ liệu công vào quy trình thẩm định. Khi biết hỏi đúng, kiểm chứng và theo dõi thời hạn, doanh nghiệp có thêm công cụ giảm rủi ro trước giao dịch.
Đề xuất siết ngưỡng miễn thuế với hàng hóa giá trị nhỏ

Đề xuất siết ngưỡng miễn thuế với hàng hóa giá trị nhỏ

Bộ Tài chính đề xuất giảm mạnh ngưỡng miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa giá trị nhỏ, xuống còn 100.000 đồng cho mỗi lần xuất khẩu, nhập khẩu. Động thái này nhằm hạn chế tình trạng chia nhỏ đơn hàng để hưởng ưu đãi, đồng thời tạo mặt bằng cạnh tranh công bằng hơn giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước.
Nghị định 337/2026/NĐ-CP siết ranh giới minh bạch: Doanh nghiệp phải bảo vệ bí mật kinh doanh thế nào?

Nghị định 337/2026/NĐ-CP siết ranh giới minh bạch: Doanh nghiệp phải bảo vệ bí mật kinh doanh thế nào?

Nghị định 337/2026/NĐ-CP mở rộng tiếp cận thông tin nhưng đặt ranh giới rõ hơn với bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân. Với doanh nghiệp, bài toán không chỉ là yêu cầu đúng thông tin, mà còn phải bảo vệ tài sản dữ liệu của chính mình.
Nghị định 337/2026/NĐ-CP mở đường dữ liệu công: Doanh nghiệp giảm rủi ro trước những quyết định đầu tư lớn

Nghị định 337/2026/NĐ-CP mở đường dữ liệu công: Doanh nghiệp giảm rủi ro trước những quyết định đầu tư lớn

Nghị định 337/2026/NĐ-CP Dữ liệu công trở thành phần của quản trị doanh nghiệp. Nghị định 337 đặt yêu cầu về danh mục thông tin, địa chỉ truy cập và trách nhiệm cung cấp. Với chủ doanh nghiệp, thói quen kiểm chứng nguồn chính thức trở thành “lá chắn” trước quyết định sai.
Dự trữ quốc gia được phép xuất cấp ngay bằng chỉ đạo qua điện thoại khi cấp bách

Dự trữ quốc gia được phép xuất cấp ngay bằng chỉ đạo qua điện thoại khi cấp bách

Theo Nghị định số 345/2026/NĐ-CP của Chính phủ, trong tình huống đột xuất, cấp bách, hàng dự trữ quốc gia có thể được xuất cấp ngay theo chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia, kể cả khi chưa kịp ban hành quyết định xuất cấp bằng văn bản. Chỉ đạo có thể được thực hiện trực tiếp qua điện thoại, Fax hoặc văn bản điện tử nhằm bảo đảm ứng phó kịp thời.
Doanh nghiệp cần rà soát gì trước khi Nghị định 283/2026 có hiệu lực

Doanh nghiệp cần rà soát gì trước khi Nghị định 283/2026 có hiệu lực

Nghị định 283/2026 đặt ra nhiều chế tài mới, trong đó doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý nghĩa vụ BHXH, hợp đồng, tiền lương và quản lý dữ liệu nhân sự.
Nghị định 343 đặt quy trình xử lý xung đột thông tin trên không gian mạng

Nghị định 343 đặt quy trình xử lý xung đột thông tin trên không gian mạng

Quy định mới phân định trách nhiệm giữa lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, các bộ, chủ quản hệ thống thông tin và doanh nghiệp viễn thông, Internet trong xử lý xung đột thông tin.
Lùi thời điểm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật mới đối với sữa dạng lỏng

Lùi thời điểm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật mới đối với sữa dạng lỏng

Bộ Công Thương quyết định tạm ngưng hiệu lực và lùi thời điểm áp dụng Thông tư số 09/2026/TT-BCT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia với sản phẩm sữa dạng lỏng đến ngày 1/12/2026, tạo thêm thời gian để rà soát, hoàn thiện các quy định trước khi triển khai.
Doanh nghiệp chế xuất phải đổi cách khai tờ khai từ ngày 9/9

Doanh nghiệp chế xuất phải đổi cách khai tờ khai từ ngày 9/9

Một thay đổi trong cách khai báo số quản lý nội bộ sẽ trở thành điều kiện để hệ thống tự động xác nhận tờ khai xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất từ ngày 9/9/2026. Việc chuẩn hóa này được kỳ vọng giảm thao tác thủ công và tạo thuận lợi hơn cho dòng hàng hóa.
Hà Nội thí điểm chế biến sâu đất hiếm từ nguồn quặng trong nước

Hà Nội thí điểm chế biến sâu đất hiếm từ nguồn quặng trong nước

UBND thành phố Hà Nội cho phép thử nghiệm có kiểm soát công nghệ sản xuất tổng oxit đất hiếm hàm lượng trên 95% từ quặng đất hiếm Việt Nam ở quy mô bán công nghiệp. Thời gian thử nghiệm 18 tháng, nhằm đánh giá khả năng vận hành, hoàn thiện công nghệ và làm cơ sở mở rộng lên quy mô công nghiệp.
Hàng hóa Việt Nam có thêm cửa vào thị trường giao dịch tập trung

Hàng hóa Việt Nam có thêm cửa vào thị trường giao dịch tập trung

Thị trường hàng hóa Việt Nam đang được đặt trước một yêu cầu mới, không chỉ mua bán thuận lợi mà còn phải có công cụ để hình thành giá, quản trị rủi ro và kết nối với thị trường quốc tế. Thông tư số 47/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương tạo thêm một bước tiến theo hướng đó khi đặt dữ liệu vào trung tâm quản lý và yêu cầu xây dựng lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong 5 năm.