Thứ hai 12/10/2026 16:09
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Xử lý các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu và quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng

16/07/2021 10:37
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính có trách nhiệm hướng dẫn các bên ký lại hợp đồng...

Hợp đồng lao động bị vô hiệu

Điều 50 của Bộ luật Lao động quy định rất cụ thể về việc hợp đồng lao động vô hiệu, đây là cơ sở để các bên xem xét khi có xảy ra tranh chấp.

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động..

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động... (Ảnh: minh họa)

Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động trái pháp luật; Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền; Công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc bị pháp luật cấm; Nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cản quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó bị vô hiệu.

Về thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, pháp luật quy định Thanh tra lao động, Toà án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thanh tra lao động tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần

Căn cứ theo Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu được quy định như sau:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong thời gian từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi hợp đồng lao động được sửa đổi, bổ sung thì được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.Trường hợp hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu có tiền lương thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.

Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của hai bên từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP; Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc;

Thời gian làm việc của người lao động theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ

Trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động ký lại hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại thực hiện như sau:– Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu;

Nếu hợp đồng lao động có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của hợp đồng lao động thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020;

Thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Trường hợp không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trường hợp HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của HĐLĐ vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong HĐLĐ là công việc mà pháp luật cấm thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động mới theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi giao kết hợp đồng lao động mới thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020.

Trường hợp hai bên không giao kết hợp đồng lao động mới thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động; Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản;

Người sử dụng lao động trả cho người lao động một khoản tiền do hai bên thỏa thuận nhưng cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng đối với địa bàn người lao động làm việc do Chính phủ quy định tại thời điểm quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Thời gian làm việc của người lao động để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu xác định theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với các hợp đồng lao động trước hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020, nếu có.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và sẽ thay thế cho Bộ luật Lao động 2012 hiện hành. Theo đó, Bộ luật Lao động 2019 đã có những thay đổi nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ việc áp dụng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động

Điều 35, Bộ luật Lao động 2019 quy định về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động đã cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần có lý do mà chỉ cần đáp ứng điều kiện báo trước về thời gian như sau: Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.

Thậm chí, trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động còn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Khoản 2 Điều 35, Bộ Luật lao động 2019 quy định những trường hợp đó bao gồm:

Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này

Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Hà An

Tin bài khác
Bộ Tài chính thúc tiến độ giải thể doanh nghiệp, nhiều khâu xử lý trong 1 ngày

Bộ Tài chính thúc tiến độ giải thể doanh nghiệp, nhiều khâu xử lý trong 1 ngày

Bộ Tài chính đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Trong đó, nhiều khâu tiếp nhận, xử lý thông tin và cập nhật tình trạng pháp lý được thực hiện trong thời hạn 1 ngày làm việc theo quy định.
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Siết quản lý vốn viện trợ nước ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC siết quản lý nguồn viện trợ không hoàn lại nước ngoài thuộc ngân sách nhà nước, từ lập dự toán đến kiểm tra quyết toán. Quy định đặt ra yêu cầu minh bạch, kiểm soát nguồn lực và cảnh báo rủi ro thanh toán với doanh nghiệp tham gia dự án.
Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Mở rộng quyền tuyển dụng, doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh nhân lực

Nghị định 371/2026/NĐ-CP (Kỳ 1): Mở rộng quyền tuyển dụng, doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh nhân lực

Nghị định 371/2026/NĐ-CP mở rộng quyền tuyển dụng trực tiếp lao động Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện áp dụng. Cơ chế mới tăng tính chủ động, minh bạch thông tin, đồng thời đặt doanh nghiệp nhỏ và vừa trước sức ép cạnh tranh nhân lực.
Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Minh bạch thông tin, doanh nghiệp đối diện yêu cầu mới về huy động vốn

Thông tư 138/2026/TT-BTC (Kỳ 1): Minh bạch thông tin, doanh nghiệp đối diện yêu cầu mới về huy động vốn

Thông tư 138/2026/TT-BTC đặt ra yêu cầu minh bạch thông tin trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ. Từ dữ liệu tài chính đến trách nhiệm công bố, doanh nghiệp phải chuẩn hóa quản trị, kiểm soát rủi ro pháp lý và củng cố niềm tin nhà đầu tư.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Đấu thầu bước vào thời kỳ “có dấu vết” – kiểm tra, giám sát và báo cáo trở thành dữ liệu

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Đấu thầu bước vào thời kỳ “có dấu vết” – kiểm tra, giám sát và báo cáo trở thành dữ liệu

Thông tư 134/2026/TT-BTC đưa hoạt động đấu thầu vào quỹ đạo quản trị dữ liệu, khi kiểm tra, giám sát và báo cáo được chuẩn hóa bằng biểu mẫu. Với doanh nghiệp, hồ sơ không chỉ để dự thầu mà phải nhất quán, truy vết và chịu được hậu kiểm.
Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC (Kỳ 2): Kiểm soát giải ngân vốn viện trợ, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 140/2026/TT-BTC làm rõ trách nhiệm quản lý vốn viện trợ nước ngoài, từ mở tài khoản, thông báo tiếp nhận đến giải ngân và hạch toán ngân sách. Tiền đã về chưa đồng nghĩa được sử dụng ngay, đặt ra rủi ro thanh toán với doanh nghiệp tham gia dự án.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Một lõi trong bảo lãnh, một mốc 5 ngày bị lỡ - giá của “sai thủ tục” ngày càng đắt

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Một lõi trong bảo lãnh, một mốc 5 ngày bị lỡ - giá của “sai thủ tục” ngày càng đắt

Thông tư 134/2026/TT-BTC siết chặt kỷ luật hồ sơ sau dự thầu, khi một lỗi bảo lãnh hoặc chậm mốc 5 ngày có thể khiến nhà thầu mất quyền lợi. Với liên danh, sai sót của một thành viên còn có thể kéo cả nhóm vào rủi ro pháp lý.
Thông tư 134/2026/TT-BTC: Khi “mẫu hồ sơ” trở thành hạ tầng quản trị đấu thầu

Thông tư 134/2026/TT-BTC: Khi “mẫu hồ sơ” trở thành hạ tầng quản trị đấu thầu

Thông tư 134/2026/TT-BTC chuẩn hóa tám mẫu hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu, đồng thời cho phép chỉnh sửa nhưng buộc giải trình rõ lý do. Với SME, năng lực hồ sơ, nghiệm thu và lịch sử thực hiện gói thầu trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững.
Đường vào khu thương mại tự do rộng nhưng không dễ

Đường vào khu thương mại tự do rộng nhưng không dễ

Một khu thương mại tự do không còn được nhìn đơn thuần là một vùng đất lớn dành cho hoạt động xuất nhập khẩu. Với Nghị định 378/2026/NĐ-CP, Chính phủ đặt ra yêu cầu về cả hạ tầng, kết nối đa phương thức, hệ sinh thái sản xuất - logistics, công nghệ số và năng lực quản trị.
Đề xuất khung pháp lý mới cho thu giữ, lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí

Đề xuất khung pháp lý mới cho thu giữ, lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí

Bộ Công Thương đang đề xuất bổ sung quy định về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí, từ đánh giá tiềm năng lưu trữ CO₂, yêu cầu kỹ thuật, thu dọn công trình đến cơ chế thu hồi chi phí và doanh thu từ tín chỉ carbon.
Nghị định 359/2026/NĐ-CP: “Trải” lỗ 5 năm, trái phiếu 0% và thị trường nợ xấu – ai được giảm áp lực, ai minh bạch hơn?

Nghị định 359/2026/NĐ-CP: “Trải” lỗ 5 năm, trái phiếu 0% và thị trường nợ xấu – ai được giảm áp lực, ai minh bạch hơn?

Nghị định 359/2026/NĐ-CP đưa xử lý nợ xấu vào quỹ đạo thị trường hơn, khi cho phép phân bổ khoản lỗ tối đa 5 năm, sử dụng trái phiếu đặc biệt lãi suất 0% và tăng yêu cầu minh bạch thông tin khoản nợ, tài sản, nghĩa vụ tài chính.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Trúng thầu chưa phải đích đến – Hậu kiểm đi theo hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu

Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Trúng thầu chưa phải đích đến – Hậu kiểm đi theo hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu

Nghị định 349/2026/NĐ-CP cho thấy trúng thầu chỉ là điểm khởi đầu, khi tiến độ hợp đồng, nhà thầu phụ và dữ liệu thực hiện đều nằm trong cơ chế hậu kiểm. Với doanh nghiệp, năng lực quản trị sau trúng thầu quyết định khả năng tuân thủ lâu dài.
Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Một thay đổi đáng chú ý khởi đầu từ ngày 15/11/2026 là yêu cầu doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải tổ chức lưu trữ hồ sơ đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Cụ thể, khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, doanh nghiệp phải có khả năng cung cấp, trích xuất hồ sơ trong vòng 24 giờ.
Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Đất bỏ hoang có thể chịu thuế cao gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức

Bộ Tài chính đề xuất áp thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, không áp dụng hạn mức. Nếu được thông qua, mức thuế này sẽ cao gần 7 lần thuế suất 0,03% đang áp dụng đối với đất ở trong hạn mức.
Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Tài sản đảm bảo bước vào “đường ray” xử lý nhanh – doanh nghiệp còn bao nhiêu dư địa thương lượng

Nghị định 359/2026/NĐ-CP: Tài sản đảm bảo bước vào “đường ray” xử lý nhanh – doanh nghiệp còn bao nhiêu dư địa thương lượng

Nghị định 359/2026/NĐ-CP làm rõ cơ chế xử lý tài sản bảo đảm, từ kế thừa quyền chủ nợ đến đấu giá và chuyển quyền. Với doanh nghiệp, hồ sơ thế chấp, thời điểm thương lượng và phương án chủ động xử lý tài sản trở thành điểm then chốt.