Thứ năm 13/08/2026 15:57
Hotline: 024.355.63.010
Pháp luật

Xử lý các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu và quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng

16/07/2021 10:37
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính có trách nhiệm hướng dẫn các bên ký lại hợp đồng...

Hợp đồng lao động bị vô hiệu

Điều 50 của Bộ luật Lao động quy định rất cụ thể về việc hợp đồng lao động vô hiệu, đây là cơ sở để các bên xem xét khi có xảy ra tranh chấp.

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động..

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động... (Ảnh: minh họa)

Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động trái pháp luật; Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền; Công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc bị pháp luật cấm; Nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cản quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó bị vô hiệu.

Về thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, pháp luật quy định Thanh tra lao động, Toà án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thanh tra lao động tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần

Căn cứ theo Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu được quy định như sau:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong thời gian từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi hợp đồng lao động được sửa đổi, bổ sung thì được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.Trường hợp hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu có tiền lương thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.

Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của hai bên từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP; Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc;

Thời gian làm việc của người lao động theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu từng phần thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ

Trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động ký lại hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại thực hiện như sau:– Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu;

Nếu hợp đồng lao động có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của hợp đồng lao động thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 145/2020;

Thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động.

Trường hợp không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động;

Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020.

Các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trường hợp HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của HĐLĐ vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong HĐLĐ là công việc mà pháp luật cấm thì xử lý theo cách dưới đây:

Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động mới theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi giao kết hợp đồng lao động mới thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 145/2020.

Trường hợp hai bên không giao kết hợp đồng lao động mới thì:– Thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động; Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu đến khi chấm dứt hợp đồng lao động được thực hiện theo khoản;

Người sử dụng lao động trả cho người lao động một khoản tiền do hai bên thỏa thuận nhưng cứ mỗi năm làm việc ít nhất bằng một tháng lương tối thiểu vùng theo tháng áp dụng đối với địa bàn người lao động làm việc do Chính phủ quy định tại thời điểm quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Thời gian làm việc của người lao động để tính trợ cấp là thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu xác định theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020;

Giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với các hợp đồng lao động trước hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020, nếu có.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Bộ luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và sẽ thay thế cho Bộ luật Lao động 2012 hiện hành. Theo đó, Bộ luật Lao động 2019 đã có những thay đổi nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ việc áp dụng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động

Điều 35, Bộ luật Lao động 2019 quy định về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động đã cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần có lý do mà chỉ cần đáp ứng điều kiện báo trước về thời gian như sau: Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.

Thậm chí, trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động còn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Khoản 2 Điều 35, Bộ Luật lao động 2019 quy định những trường hợp đó bao gồm:

Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này

Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Hà An

Tin bài khác
Đăng ký doanh nghiệp đổi “luật chơi”: Doanh nghiệp phải chủ động quản trị dữ liệu pháp lý

Đăng ký doanh nghiệp đổi “luật chơi”: Doanh nghiệp phải chủ động quản trị dữ liệu pháp lý

Quyết định 1996/QĐ-BTC cùng những thay đổi từ Nghị định 168/2025/NĐ-CP và Nghị định 296/2026/NĐ-CP đang đặt doanh nghiệp trước yêu cầu mới: không chỉ làm đúng thủ tục, mà còn phải chủ động kiểm soát, cập nhật và chịu trách nhiệm về dữ liệu pháp lý.
Siết thao túng thị trường hàng hóa phái sinh: Cấm tạo cung cầu giả, làm giá

Siết thao túng thị trường hàng hóa phái sinh: Cấm tạo cung cầu giả, làm giá

Dự thảo Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh đang được xây dựng theo hướng nâng các quy định quản lý từ cấp nghị định lên luật, đồng thời xác định cụ thể nhiều hành vi bị cấm như tạo cung cầu giả, thao túng giá, giao dịch thông đồng, sử dụng thông tin nội bộ và can thiệp trái phép vào cơ chế xác định giá.
Giảm thuế trực tiếp giúp doanh nghiệp tạo thêm được dòng tiền

Giảm thuế trực tiếp giúp doanh nghiệp tạo thêm được dòng tiền

Thay vì chờ các chính sách hỗ trợ gián tiếp phát huy tác dụng, doanh nghiệp có thể giữ lại ngay một phần lợi nhuận nếu đề xuất giảm 30% thuế thu nhập được thông qua.
Nghị định 308/2026/NĐ-CP  và cuộc cạnh tranh mới – Doanh nghiệp nào kiểm soát được kỹ năng, doanh nghiệp đó có lợi thế

Nghị định 308/2026/NĐ-CP và cuộc cạnh tranh mới – Doanh nghiệp nào kiểm soát được kỹ năng, doanh nghiệp đó có lợi thế

Nghị định 308/2026/NĐ-CP không chỉ mở cơ chế hỗ trợ đào tạo mà còn thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu vào phát triển kỹ năng nghề. Từ kỹ năng số, kỹ năng xanh đến hợp tác với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhân lực đang trở thành một lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Hàng Việt qua Động Trung - Lý Hỏa được thông quan nhanh hơn

Hàng Việt qua Động Trung - Lý Hỏa được thông quan nhanh hơn

Khu cặp chợ thương mại cư dân biên giới Động Trung - Lý Hỏa dự kiến hoạt động từ trung tuần tháng 8/2026, mở ra phương thức thông quan thuận lợi hơn cho hàng hóa Việt Nam.
Nghị định 311/2026/NĐ-CP: Từ thuế, môi trường đến sở hữu trí tuệ,  doanh nghiệp có thể đối diện nhiều chủ thể có thẩm quyền xử phạt

Nghị định 311/2026/NĐ-CP: Từ thuế, môi trường đến sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp có thể đối diện nhiều chủ thể có thẩm quyền xử phạt

Nghị định 311/2026/NĐ-CP điều chỉnh thẩm quyền xử phạt trên nhiều lĩnh vực gắn trực tiếp với hoạt động kinh doanh. Từ thuế, hải quan, môi trường đến sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp cần nhận diện lại rủi ro tuân thủ, thay vì chỉ quan tâm một hành vi có thể bị phạt bao nhiêu tiền.
Nghị định 308/2026/NĐ-CP: Quỹ đào tạo nhân lực – Cơ hội mới nhưng đừng biến thành “quỹ treo”

Nghị định 308/2026/NĐ-CP: Quỹ đào tạo nhân lực – Cơ hội mới nhưng đừng biến thành “quỹ treo”

Nghị định 308/2026/NĐ-CP trao quyền cho doanh nghiệp lựa chọn thành lập Quỹ đào tạo nhân lực từ lợi nhuận sau thuế và nguồn tài trợ hợp pháp. Cơ chế mới mở thêm dư địa đầu tư con người, nhưng cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về kế hoạch, hồ sơ, quản lý và hạch toán.
Phân loại hàng hóa theo quy định mới: Doanh nghiệp được lợi gì?

Phân loại hàng hóa theo quy định mới: Doanh nghiệp được lợi gì?

Việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 85/2026/TT-BTC không chỉ hoàn thiện quy định về phân loại hàng hóa mà còn tạo nền tảng để doanh nghiệp chuẩn hóa hồ sơ kỹ thuật, khai thác dữ liệu hiệu quả và thực hiện thủ tục hải quan thuận lợi hơn trong môi trường số.
Không nợ thuế vẫn có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu bỏ địa chỉ kinh doanh

Không nợ thuế vẫn có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu bỏ địa chỉ kinh doanh

Một thay đổi đáng chú ý trong quy định mới về quản lý thuế là biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không còn chỉ gắn với tình trạng nợ thuế. Trường hợp doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 120 ngày mà không hoàn tất các thủ tục theo quy định, cả người đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu hưởng lợi đều có thể bị áp dụng biện pháp này.
Nghị định 308/2026/NĐ-CP: Được Nhà nước hỗ trợ đào tạo, nhưng doanh nghiệp không thể ngồi chờ

Nghị định 308/2026/NĐ-CP: Được Nhà nước hỗ trợ đào tạo, nhưng doanh nghiệp không thể ngồi chờ

Nghị định 308/2026/NĐ-CP mở cơ chế hỗ trợ đào tạo nhân lực và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, hỗ trợ không tự động phát sinh. Doanh nghiệp cần nhận diện đúng điều kiện, quy trình và chi phí thực tế để biến chính sách thành lợi thế cạnh tranh.
Nghị định 311/2026/NĐ-CP: Doanh nghiệp cần làm gì trước khi thẩm quyền xử phạt mới có hiệu lực?

Nghị định 311/2026/NĐ-CP: Doanh nghiệp cần làm gì trước khi thẩm quyền xử phạt mới có hiệu lực?

Từ ngày 26/9/2026, Nghị định 311/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, điều chỉnh nhiều chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và startup, vấn đề không chỉ là mức phạt, mà còn là nhận diện đúng chủ thể thực thi và rủi ro tuân thủ.
Ban hành tiêu chí mới về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Ban hành tiêu chí mới về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước. Quyết định xác định rõ các ngành, lĩnh vực và khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ, làm căn cứ xây dựng kế hoạch sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước theo hướng nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn.
Đề xuất sửa Luật Đấu thầu: Bỏ nhiều thủ tục, bổ sung hình thức lựa chọn nhà thầu mới

Đề xuất sửa Luật Đấu thầu: Bỏ nhiều thủ tục, bổ sung hình thức lựa chọn nhà thầu mới

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Luật Đấu thầu (sửa đổi) với nhiều đề xuất đáng chú ý như tinh gọn các hình thức lựa chọn nhà thầu, đẩy mạnh đấu thầu số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp trong nước. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ rút ngắn thời gian thực hiện dự án, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động đấu thầu.
Khuyến khích doanh nghiệp lập Quỹ đào tạo nhân lực từ ngày 6/10

Khuyến khích doanh nghiệp lập Quỹ đào tạo nhân lực từ ngày 6/10

Từ ngày 6/10/2026, Nghị định số 308/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, mở rộng nhiều cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia giáo dục nghề nghiệp. Đáng chú ý, doanh nghiệp được phép trích lập Quỹ đào tạo nhân lực để đầu tư phát triển kỹ năng cho người lao động, đồng thời được hưởng nhiều chính sách ưu đãi khi hợp tác với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Thông tư 32/2026/TT-BCT: Không chỉ là hỗ trợ kinh phí, mở ra chuẩn xúc tiến thương mại số quốc gia

Thông tư 32/2026/TT-BCT: Không chỉ là hỗ trợ kinh phí, mở ra chuẩn xúc tiến thương mại số quốc gia

Thông tư số 32/2026/TT-BCT không chỉ mở rộng phạm vi hỗ trợ trong Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại mà còn định hướng xây dựng hạ tầng số, nền tảng số và phương thức xúc tiến hiện đại. Đây là bước chuyển từ hỗ trợ hoạt động đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái xúc tiến thương mại số có tính bền vững.