Từ trái dừa đến container xuất khẩu
5 giờ sáng, tại một bến sông ở Bến Tre (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long mới), ghe chở dừa bắt đầu cập bến. Dừa khô được bốc dỡ nhanh, cân tại chỗ rồi chuyển sang ghe lớn đưa về cơ sở thu mua.
Ông Sáu, gần 30 năm trong nghề, vừa ghi sổ vừa nói: “Giờ tụi tui bán dừa không còn chỉ quanh một huyện nữa đâu, hàng đi thẳng lên nhà máy, rồi xuất qua Nhật, qua châu Âu".
Những trái dừa ở bến này chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng diện tích hơn 119.000 ha dừa của tỉnh mới sau khi hợp nhất từ Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh. Riêng Bến Tre trước đây đã thu hoạch gần 800 triệu trái mỗi năm, mang về khoảng nửa tỷ USD từ các sản phẩm chế biến.
![]() |
Dừa khô được thu mua và vận chuyển bằng ghe dọc các tuyến sông ở Bến Tre, hình ảnh quen thuộc của chuỗi giá trị dừa – ngành kinh tế chủ lực đang góp phần định hình diện mạo nông nghiệp của tỉnh mới sau sáp nhập. |
Nhưng câu chuyện ở bến dừa không dừng lại ở trái tươi. Tại các khu công nghiệp, nhà máy, dây chuyền sản xuất dầu dừa tinh luyện vận hành liên tục. Hơn 200 doanh nghiệp chế biến sâu đang hoạt động, sản xuất từ nước cốt dừa, dầu dừa đến mỹ phẩm và than hoạt tính.
Một quản đốc phân xưởng chia sẻ: "Nếu hạ tầng đồng bộ hơn, chi phí logistics giảm vài phần trăm thôi là doanh nghiệp đã khác rồi”.
Bà Tư – chủ một cơ sở tách cơm dừa – nói thêm: “Trước bán cơm dừa thô, giá bấp bênh lắm. Giờ liên kết với nhà máy chế biến sâu, họ đặt hàng ổn định hơn. Nghe tỉnh quy hoạch lại logistics, tụi tui cũng hy vọng đỡ cảnh chờ thương lái”.
Từ vuông tôm, nhìn ra biển
Cách đó hơn trăm cây số, tại vùng ven biển thuộc tỉnh Trà Vinh cũ, những trụ điện gió nổi bật trên nền trời sớm. Dưới vuông tôm, anh Hùng kiểm tra độ mặn trước khi cho ăn.
Trước khi hợp nhất, Trà Vinh có hơn 60.000 ha nuôi thủy sản, sản lượng hằng năm đạt khoảng 240.000 tấn, trong đó tôm nước lợ là ngành chủ lực.
“Giờ tỉnh sáp nhập, tụi tui mong nhà máy chế biến gần hơn, đường sá thông hơn. Nhiều khi trúng mùa mà chi phí vận chuyển đội lên, lời lãi không bao nhiêu", anh Hùng nói.
Không chỉ có thủy sản, Trà Vinh còn là một trong những địa phương phát triển điện gió sớm ở đồng bằng sông Cửu Long. Tính đến năm 2024, tỉnh đã có 9 dự án điện gió đi vào vận hành thương mại với tổng công suất khoảng 600–700 MW, tập trung tại các huyện Duyên Hải và Trà Cú. Sản lượng điện hằng năm đạt hàng tỷ kWh, đóng góp đáng kể cho ngân sách địa phương.
![]() |
Điện gió ven biển Trà Vinh không chỉ bổ sung nguồn năng lượng sạch cho lưới điện quốc gia mà còn mở ra một điểm nhấn cảnh quan mới, thu hút du khách đến trải nghiệm không gian biển – năng lượng tái tạo đặc trưng của địa phương. |
Với đường bờ biển dài hơn 65 km (và vùng bãi bồi rộng lớn thuận lợi cho năng lượng tái tạo), điện gió và điện mặt trời đang trở thành trụ cột kinh tế mới bên cạnh con tôm.
Trung tâm của những dòng chảy
Ở trung tâm tỉnh mới, Vĩnh Long giữ một nhịp sống khác. Không ồn ào bến dừa, không mặn mòi vuông tôm, nhưng lại là nơi những dòng hàng hóa hội tụ trước khi tỏa đi.
Từ sáng sớm, xe container đã ra vào các khu, cụm công nghiệp dọc quốc lộ. Trước khi hợp nhất, giá trị sản xuất công nghiệp của Vĩnh Long tăng trưởng bình quân khoảng 9–10% mỗi năm. Toàn tỉnh có hàng nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó công nghiệp chế biến – chế tạo chiếm tỷ trọng lớn.
GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 80–82 triệu đồng/năm, thuộc nhóm trung bình khá của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống hạ tầng giao thông kết nối thuận lợi với Cần Thơ, TP.HCM và các tỉnh lân cận giúp Vĩnh Long trở thành điểm trung chuyển hàng hóa cho cả khu vực.
Nhưng lợi thế quan trọng hơn nằm ở nguồn nhân lực. Trên địa bàn có các trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo nghề cung ứng lao động kỹ thuật cho ngành chế biến nông sản, thủy sản và công nghiệp nhẹ. Nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp không còn phải rời quê tìm việc như trước.
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ một doanh nghiệp ở khu công nghiệp Hòa Phú chia sẻ: “Vĩnh Long giờ không chỉ là nơi sản xuất, mà còn là nơi đào tạo. Khi tỉnh hợp nhất, doanh nghiệp sẽ có vùng nguyên liệu rộng hơn và lực lượng lao động ổn định hơn”.
Nếu Bến Tre mang đến vùng nguyên liệu dừa lớn, Trà Vinh bổ sung kinh tế biển và năng lượng, thì Vĩnh Long đóng vai trò trục giữa — nơi tổ chức sản xuất, đào tạo và điều phối chuỗi giá trị. Trong cấu trúc tỉnh mới, đây có thể là “bộ não” của hệ thống: kết nối nông nghiệp với công nghiệp, kết nối ven biển với nội địa, và kết nối người lao động với cơ hội việc làm ngay trên quê hương mình.
Từ hợp nhất hành chính đến chiến lược phát triển liên hoàn
Từ bến dừa ở Bến Tre cũ, vuông tôm ven biển Trà Vinh đến trung tâm công nghiệp của Vĩnh Long, ba không gian kinh tế từng vận hành song song nay đặt trong cùng một quy hoạch phát triển.
![]() |
Khu công nghiệp Hòa Phú (Vĩnh Long) – một trong những hạt nhân công nghiệp của tỉnh, đang thu hút nhiều doanh nghiệp sản xuất, chế biến, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm cho lao động địa phương. |
UBND tỉnh Vĩnh Long, cho biết, tỉnh xác định 4 trụ cột phát triển chính là kinh tế biển và năng lượng tái tạo; nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao; hạ tầng liên kết vùng – logistics; và nguồn nhân lực chất lượng cao. Quan điểm này không chỉ là tiềm năng riêng lẻ mà là một hệ thống lợi thế tương tác và cộng hưởng để tạo năng lực cạnh tranh bền vững cho tỉnh mới. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn, vì thể hiện chiến lược tổng thể cho cách nhìn phát triển sau sáp nhập – không chỉ khai thác thế mạnh từng địa phương, mà kết nối chúng thành chuỗi giá trị.
Ông Lê Anh Đức – Trưởng phòng Quy hoạch & Phát triển (Viện Chiến lược – Chính sách Kinh tế Tài chính), từng nhận định: Việc kết hợp 130 km dọc biển của Trà Vinh – Bến Tre với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ của Vĩnh Long tạo ra một “hành lang kinh tế biển và logistics lớn”. Lợi thế này có thể biến tỉnh mới thành cảng đầu mối và cửa ngõ xuất khẩu chính của toàn vùng ĐBSCL.
Không gian 130 km bờ biển nếu chỉ nhìn ở góc độ địa lý thì là con số. Nhưng nếu đặt trong tổng thể vùng nguyên liệu dừa hơn 119.000 ha, hàng chục nghìn ha nuôi thủy sản và mạng lưới khu – cụm công nghiệp dọc quốc lộ, thì đó là một cấu trúc kinh tế hoàn chỉnh: có đầu vào, có chế biến, có năng lượng, có cửa ra thị trường.
Điểm khác biệt của tỉnh mới không nằm ở từng lợi thế riêng lẻ, mà ở khả năng tổ chức chúng thành chuỗi giá trị khép kín: Nông nghiệp sinh thái và thủy sản cung cấp nguyên liệu ổn định. Công nghiệp chế biến tạo giá trị gia tăng. Logistics và cảng biển giảm chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian ra thị trường quốc tế. Nguồn nhân lực tại chỗ bảo đảm tính bền vững cho toàn hệ thống.
Trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long đang tái cấu trúc theo hướng thích ứng biến đổi khí hậu và nâng chất lượng tăng trưởng, mô hình “liên hoàn nội tỉnh” có thể giúp địa phương tránh được tình trạng phát triển phân tán – điều từng là điểm nghẽn của nhiều tỉnh nhỏ trước đây.
Quan trọng hơn, sự cộng hưởng này giúp tỉnh mới thoát khỏi tư duy tăng trưởng dựa vào sản lượng. Khi dừa không chỉ bán trái mà xuất khẩu mỹ phẩm, thực phẩm chức năng; khi con tôm không chỉ xuất thô mà đi qua chuỗi chế biến sâu; khi điện gió không chỉ hòa lưới mà kéo theo công nghiệp phụ trợ và dịch vụ kỹ thuật — thì giá trị gia tăng sẽ được giữ lại nhiều hơn ngay tại địa phương.
Ở góc độ vùng, nếu quy hoạch được triển khai đồng bộ, tỉnh mới có thể đóng vai trò “cực tăng trưởng ven biển phía Đông” của đồng bằng, bổ sung cho trục động lực truyền thống quanh Cần Thơ. Khi đó, dòng hàng hóa không chỉ đi lên TP.HCM như trước, mà có thể đi thẳng ra biển từ chính địa bàn tỉnh.
Sự hợp nhất vì vậy không chỉ mở rộng diện tích hành chính, mà mở rộng không gian chiến lược. Từ bến dừa, vuông tôm đến khu công nghiệp, những dòng chảy kinh tế từng song song nay có cơ hội hội tụ.
Nếu vận hành hiệu quả, đây có thể là bước chuyển từ “ba nền kinh tế địa phương” sang một cấu trúc kinh tế tích hợp – đủ quy mô, đủ chiều sâu và đủ khả năng cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu…