Bộ Xây dựng vừa chính thức phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể kết cấu hạ tầng hàng hải thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch mới này đóng vai trò nền tảng để thiết lập các phương án chi tiết cho hệ thống hạ tầng đường biển quốc gia. Trong đó, một trong những thay đổi cốt lõi là việc tinh gọn quy mô quản lý khi tổng số lượng cảng biển được sắp xếp, giảm mạnh từ 36 xuống còn 23 cảng sau khi hoàn thành rà soát các đơn vị hành chính cấp tỉnh.
![]() |
| Cảng biển đặc biệt là cảng biển có qui mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng và có chức năng trung chuyển quốc tế hoặc cảng cửa ngõ quốc tế. |
Bản đồ hàng hải Việt Nam giai đoạn tới sẽ chứng kiến cuộc dịch chuyển lớn về phân cấp quy mô. Theo chức năng hiện tại, hệ thống được chia làm ba nhóm chính: hai cảng biển đặc biệt là Hải Phòng và TPHCM; 15 cảng biển loại I và 6 cảng biển loại II. Tuy nhiên, mục tiêu dài hạn mở ra cơ hội bứt phá cho các vùng kinh tế trọng điểm khi bốn khu vực gồm Thanh Hóa, Đà Nẵng, Khánh Hòa và Cần Thơ được quy hoạch tiềm năng để phát triển thành các cảng biển đặc biệt.
Chiến lược phát triển mới cũng bổ sung các khu bến chuyên dụng phục vụ ngành công nghiệp năng lượng như LNG, thép, đồng thời định hướng hình thành ba cụm công nghiệp tàu biển tập trung tại ba miền Bắc - Trung - Nam.
Đáng chú ý, bến cảng Hòn Khoai được điều chỉnh công năng thành bến cảng lưỡng dụng, đồng thời các tuyến vận tải ven biển thuộc hạ tầng đường thủy nội địa cũng được chuyển đổi đồng bộ sang hệ thống hàng hải nhằm tối ưu hóa năng lực khai thác của đội tàu ven bờ.
Về các cột mốc tăng trưởng, mục tiêu đến năm 2030, sản lượng hàng hóa thông qua toàn hệ thống đạt từ 1.396 đến 1.656 triệu tấn, lượng hành khách đạt mốc 18,5 - 20,4 triệu lượt. Ngành Hàng hải sẽ ưu tiên xây dựng các dự án hạ tầng trọng điểm gồm khu bến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), khu bến Liên Chiểu (Đà Nẵng) và khu bến Nam Đồ Sơn (Hải Phòng). Đến năm 2050, hệ thống này tiếp tục duy trì đà tăng trưởng lượng hàng hóa bình quân từ 4,3% đến 4,9% mỗi năm.
Để hiện thực hóa bức tranh hạ tầng này, tổng nhu cầu sử dụng đất đến năm 2030 ước tính khoảng 19.800ha và diện tích mặt nước là 1.838.500ha. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống bến cảng kinh doanh dịch vụ xếp dỡ dự kiến cần khoảng 581.000 tỷ đồng. Dòng vốn khổng lồ này được xác định sẽ huy động chủ yếu từ nguồn ngoài ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác, thể hiện rõ định hướng xã hội hóa để giảm tải cho ngân sách Nhà nước, nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế biển Việt Nam.