Sau 10 năm đi làm, chị Lương Thị Huế, 32 tuổi, phải đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp lần thứ hai. Đã thất nghiệp năm tháng, nhận ba tháng trợ cấp nhưng chị vẫn chưa tìm được công việc mới.
Trong cuộc trao đổi với báo chí, chị Huế cho biết thời gian hưởng trợ cấp lần này chỉ có năm tháng. Khi đã nhận được ba tháng, chị lo lắng nếu hai tháng còn lại trôi qua mà vẫn chưa tìm được việc, cuộc sống sẽ càng khó khăn.
Đến năm 2026, thị trường lao động tiếp tục xuất hiện những diễn biến trái chiều. Theo Cục Thống kê, sáu tháng đầu năm, cả nước có khoảng 52,6 triệu người có việc làm, tăng 672.500 người so với cùng kỳ. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức 2,22%.
Tuy nhiên, dữ liệu từ Cục Việc làm cho thấy cả nước tiếp nhận 373.135 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong nửa đầu năm. Trong đó, 340.577 người có quyết định hưởng trợ cấp.
Riêng tháng 6, số hồ sơ đề nghị hưởng tăng lên 70.045, cao hơn 35,4% so với tháng trước và 25,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Những con số này không đồng nghĩa thị trường lao động đang suy giảm trên diện rộng. Tuy nhiên, chúng cho thấy nhu cầu hỗ trợ người mất việc vẫn lớn, ngay cả khi các chỉ số việc làm chung duy trì tích cực.
Ở chiều ngược lại, không ít doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong tuyển dụng.
![]() |
Tại Ninh Bình, Công ty TNHH Công nghệ điện tử Freeport Việt Nam, Khu công nghiệp Đồng Văn I, đăng tuyển 50 lao động phổ thông từ đầu năm 2026 để đáp ứng đơn hàng sản xuất. Doanh nghiệp quảng bá thông tin qua nhiều kênh, kể cả mạng xã hội, đồng thời có chính sách thưởng cho công nhân giới thiệu lao động mới. Tuy nhiên, đến đầu tháng 4, công ty mới tuyển được vài người.
Bà Trần Thị Huệ, đại diện Phòng Hành chính – Nhân sự, cho biết doanh nghiệp áp dụng nhiều chính sách thu hút lao động: trả lương ngay từ khi bắt đầu làm việc, hỗ trợ ăn ca, đi lại, chuyên cần và bảo đảm chế độ bảo hiểm.
Dù vậy, tuyển dụng vẫn khó do nguồn lao động tại địa phương khan hiếm, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp gia tăng và người lao động có xu hướng tìm kiếm công việc linh hoạt hơn.
Trường hợp Freeport cho thấy nhu cầu tuyển dụng không tự động chuyển thành số lao động được tuyển. Ngay cả khi doanh nghiệp không đòi hỏi trình độ cao và có chính sách hỗ trợ, việc tìm đủ người vẫn là thách thức.
Nghịch lý này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân.
Trước hết là sự chênh lệch kỹ năng. Một công nhân có kinh nghiệm may mặc chưa chắc đáp ứng ngay yêu cầu vận hành thiết bị điện tử. Nhân viên văn phòng quen xử lý hồ sơ thủ công cũng có thể gặp bất lợi khi doanh nghiệp tuyển người thành thạo phần mềm quản trị.
Tiếp đến là thu nhập và điều kiện làm việc. Người lao động phải cân nhắc tiền lương thực nhận, chi phí đi lại, nhà ở, thời gian tăng ca và trách nhiệm chăm sóc gia đình. Một vị trí tuyển dụng còn trống không có nghĩa mọi người thất nghiệp đều có thể hoặc sẵn sàng nhận việc.
Khoảng cách địa lý càng làm vấn đề phức tạp. Doanh nghiệp thiếu người ở khu công nghiệp này, trong khi lao động thất nghiệp lại tập trung tại địa phương khác. Chi phí chuyển nơi ở và những ràng buộc gia đình khiến việc dịch chuyển lao động không dễ dàng.
Vì vậy, bài toán không chỉ là tạo thêm vị trí tuyển dụng, mà phải làm sao để những vị trí đó thực sự phù hợp với người đang cần việc.
Chinh sách bảo hiểm thất nghiệp được thiết kế để bù đắp một phần thu nhập khi người lao động mất việc, đồng thời hỗ trợ họ tìm kiếm công việc mới.
Luật Việc làm năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng gắn trợ cấp với tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo và nâng cao kỹ năng nghề.
Tuy nhiên, hiệu quả chính sách không nên chỉ được đo bằng số người nhận trợ cấp hoặc số lượt được tư vấn.
Theo Cục Việc làm, sáu tháng đầu năm 2026, cả nước ghi nhận hơn 1,13 triệu lượt tư vấn, giới thiệu việc làm, tăng 29,8% so với cùng kỳ. Số người được hỗ trợ đào tạo nghề đạt 13.178, tăng 50,8%.
Hoạt động hỗ trợ được mở rộng là tín hiệu tích cực. Nhưng câu hỏi quan trọng hơn là bao nhiêu người thực sự tìm được việc sau tư vấn, bao nhiêu người được tuyển dụng sau đào tạo và bao nhiêu người duy trì công việc ổn định.
Nếu người thất nghiệp được giới thiệu hàng chục vị trí nhưng không đáp ứng yêu cầu kỹ năng, hoạt động kết nối vẫn chưa đạt mục tiêu. Tương tự, một khóa đào tạo nghề sẽ khó phát huy hiệu quả nếu người học hoàn thành chương trình mà không có doanh nghiệp tiếp nhận.
Thực tế đòi hỏi cách tiếp cận cụ thể hơn, bắt đầu từ nhu cầu của từng người lao động.
Người từng làm việc trong nhà máy cần được đánh giá tay nghề để xác định có thể chuyển sang vị trí nào. Lao động văn phòng thiếu kỹ năng số cần được tư vấn các khóa đào tạo phù hợp. Người lớn tuổi hoặc có trách nhiệm chăm sóc gia đình cần được giới thiệu công việc có địa điểm, thời gian và điều kiện phù hợp.
Ở phía doanh nghiệp, thông tin tuyển dụng phải rõ ràng về mức lương, phụ cấp, ca làm việc, yêu cầu kỹ năng và khả năng đào tạo ban đầu. Những thông tin này giúp người lao động đánh giá cơ hội trước khi ứng tuyển, tránh mất thời gian cho cả hai phía.
Một giải pháp cần được ưu tiên là kết nối ba bên: trung tâm dịch vụ việc làm, cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp.
![]() |
Thay vì mở lớp theo danh mục có sẵn, các đơn vị cần xác định doanh nghiệp đang thiếu nhân lực ở vị trí nào, yêu cầu kỹ năng ra sao và có khả năng tiếp nhận bao nhiêu người sau đào tạo.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia xây dựng chương trình đào tạo hoặc tiếp nhận lao động thực hành có thể giúp giảm chi phí tuyển dụng, đồng thời tạo nguồn nhân lực phù hợp hơn.
Cơ quan quản lý cũng cần khai thác dữ liệu bảo hiểm thất nghiệp để nhận diện những nhóm có nguy cơ thất nghiệp kéo dài, ngành nghề biến động mạnh và địa phương thiếu lao động. Việc phân tích dữ liệu phải hướng tới dự báo và hỗ trợ sớm, thay vì chỉ tổng hợp kết quả giải quyết hồ sơ.
Đặc biệt, quá trình hỗ trợ không nên kết thúc ngay khi người lao động nhận việc. Theo dõi tình trạng làm việc sau ba hoặc sáu tháng sẽ giúp đánh giá chất lượng kết nối, phát hiện nguyên nhân nghỉ việc sớm và điều chỉnh chương trình đào tạo.
Trường hợp chị Huế cho thấy trợ cấp có thể giúp người lao động vượt qua giai đoạn khó khăn, nhưng áp lực tìm việc vẫn hiện hữu khi thời gian hưởng dần kết thúc. Trong khi đó, khó khăn tuyển dụng của Freeport cho thấy doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào việc công bố chỉ tiêu tuyển người.
Muốn giải quyết nghịch lý doanh nghiệp thiếu người, lao động thiếu việc, chính sách phải thu hẹp khoảng cách giữa kỹ năng, thu nhập, điều kiện làm việc và nhu cầu tuyển dụng.
Thước đo quan trọng của bảo hiểm thất nghiệp vì thế không chỉ là chi trả đúng, đủ, kịp thời, mà còn là khả năng giúp người lao động tìm được công việc phù hợp và duy trì sinh kế bền vững.