Thứ bảy 25/04/2026 18:54
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Tạo thuận lợi cho DN trong xác định xuất xứ hàng hóa xuất, nhập khẩu

12/10/2020 00:00
Thông tư số 38/2018/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và áp dụng ưu đãi thuế quan theo đ

Ảnh minh họa

Thông tư số 38/2018/TT-BTC là một văn bản quy phạm pháp luật quan trọng quy định cụ thể, thống nhất, minh bạch về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Lần đầu tiên đối với lĩnh vực xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có một đầu mối văn bản riêng giúp hải quan và doanh nghiệp thuận tiện trong việc thực hiện và tra cứu.

Việc ban hành Thông tư giúp minh bạch hóa trong việc thực hiện xác định xuất xứ hàng hóa: Thông tư đã quy định cụ thể hồ sơ xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; các trường hợp phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, các trường hợp không phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, các chừng từ phải nộp khác để chứng minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu...

Một số nội dung quan trọng

Thông tư 38 quy định cụ thể hồ sơ xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 3). Theo đó, hồ sơ xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm:

a) Đơn đề nghị xác định trước xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo các chỉ tiêu thông tin tại mẫu số 01/CT/XĐTXX/GSQL Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 38/2018/TT-BTC;

b) Bản kê nguyên liệu, vật tư dùng để sản xuất hàng hoá gồm các thông tin: tên hàng, mã số hàng hóa, xuất xứ nguyên liệu, vật tư cấu thành sản phẩm, giá CIF hoặc giá tương đương của nguyên liệu, vật tư do nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu cung cấp: 01 bản chụp;

c) Bản mô tả sơ bộ quy trình sản xuất hàng hoá hoặc Giấy chứng nhận phân tích thành phần do nhà sản xuất cung cấp: 01 bản chụp;

d) Catalogue hoặc hình ảnh hàng hóa: 01 bản chụp.

Thủ tục xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện theo quy định tại Điều 28 Luật Hải quan, Điều 24 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và khoản 11 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định cụ thể các trường hợp phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Điều 4):

a) Hàng hoá có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi thuế quan trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi thuế quan trong quan hệ thương mại với Việt Nam.

b) Hàng hoá thuộc diện phải tuân thủ các chế độ quản lý nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc theo Điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên mà Việt Nam và nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ cùng là thành viên; hàng hóa đang được thông báo nghi ngờ nhập khẩu từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ trong danh sách bị cấm vận theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

c) Hàng hoá thuộc diện Việt Nam hoặc các tổ chức quốc tế thông báo đang ở trong thời điểm có nguy cơ gây hại đến an toàn xã hội, sức khoẻ của cộng đồng hoặc vệ sinh môi trường cần được kiểm soát.

d) Hàng hoá thuộc diện Việt Nam thông báo đang ở trong thời điểm áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, các biện pháp tự vệ, biện pháp hạn ngạch thuế quan, biện pháp hạn chế số lượng, để xác định hàng hóa không thuộc diện áp dụng các thuế này.

Xử lý các trường hợp không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Thông tư 38 quy định cụ thể việc xử lý các trường hợp không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Điều 4) như sau: Đối với hàng hóa nhập khẩu áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt nếu người khai hải quan không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa thì hàng hóa áp dụng thuế suất ưu đãi (MFN) hoặc thông thường.

Đối với hàng hóa phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ tại thời điểm làm thủ tục hải quan mà người khai hải quan không nộp thì hàng hóa không được thông quan và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trường hợp hàng hóa quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư số 38/2018/TT-BTC, người khai hải quan không nộp được chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhưng hàng hóa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam kết luận hàng hóa đủ điều kiện nhập khẩu hoặc cho phép nhập khẩu theo pháp luật chuyên ngành thì cơ quan hải quan thực hiện thông quan theo quy định.

Đối với hàng hóa áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp hoặc thuế tự vệ hoặc thuế suất ngoài hạn ngạch thuế quan nếu người khai hải quan không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa thì hàng hóa áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp hoặc thuế tự vệ hoặc thuế suất ngoài hạn ngạch thuế quan đối với toàn bộ lô hàng và được thông quan theo quy định.

Thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Thông tư quy định cụ thể thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Điều 7): Đối với trường hợp người khai hải quan có chứng từ chứng nhận xuất xứ tại thời điểm làm thủ tục hải quan: nộp tại thời điểm làm thủ tục hải quan.

Đối với trường hợp người khai hải quan chưa có chứng từ tại thời điểm làm thủ tục hải quan: được chậm nộp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan, trừ 02 trường hợp ngoại lệ: (1) đối với C/O mẫu EAV nộp tại thời điểm làm thủ tục hải quan, (2) đối với C/O mẫu KV (VK) trường hợp chưa có chứng từ chứng nhận xuất xứ tại thời điểm làm thủ tục hải quan thì nộp trong thời hạn 01 năm.

Đồng thời, Thông tư cũng quy định cụ thể việc trừ lùi C/O đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài đưa vào kho ngoại quan để nhập khẩu nhiều lần vào nội địa (Điều 23).

Theo đó, trường hợp một lô hàng đưa từ nước ngoài vào kho ngoại quan để nhập khẩu vào nội địa nhiều lần thì được sử dụng C/O để lập Phiếu theo dõi trừ lùi cho từng lần nhập khẩu vào nội địa và được áp dụng trừ lùi tại nhiều Chi cục Hải quan khác nhau.

Quy định này tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ kho ngoại quan vào nội địa.

Khánh Linh/Chinhphu.vn

Tin bài khác
Dòng vốn ngoại “chọn lọc” quay lại bất động sản, chiếm 7,2% tổng vốn giải ngân

Dòng vốn ngoại “chọn lọc” quay lại bất động sản, chiếm 7,2% tổng vốn giải ngân

Sau giai đoạn chững lại đầu năm do yếu tố mùa vụ, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực bất động sản đã ghi nhận tín hiệu cải thiện trong quý I/2026. Dù tỷ trọng chưa lớn, xu hướng giải ngân cho thấy nhà đầu tư ngoại đang quay lại thị trường với chiến lược thận trọng và chọn lọc hơn.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Tạo đột phá để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Tạo đột phá để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Yêu cầu đổi mới tư duy, tái cấu trúc toàn diện ngành văn hóa, thể thao và du lịch, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh cần những giải pháp đột phá nhằm nâng cao sức cạnh tranh, thu hút mạnh khách quốc tế, đưa du lịch thực sự trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế.
Giải ngân vốn đầu tư công 4 tháng đầu năm đạt 12,6%: Nhiều bộ, địa phương “chậm chân”

Giải ngân vốn đầu tư công 4 tháng đầu năm đạt 12,6%: Nhiều bộ, địa phương “chậm chân”

Đến giữa tháng 4/2026, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công vẫn ở mức thấp so với yêu cầu, khi mới đạt 12,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đáng chú ý, còn tới 28 bộ, cơ quan trung ương và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân cả nước, phản ánh những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện và hoàn thiện thủ tục đầu tư.
Doanh nghiệp trước cơ hội bứt phá từ “động lực kép” năng lượng sạch và tài chính xanh

Doanh nghiệp trước cơ hội bứt phá từ “động lực kép” năng lượng sạch và tài chính xanh

Sự kết hợp giữa năng lượng sạch và tài chính xanh đang mở ra cơ hội tái cấu trúc, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy doanh nghiệp Việt thực thi ESG hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững.
Quốc hội thông qua kế hoạch đầu tư công 8,22 triệu tỷ đồng, nhấn mạnh vai trò dẫn dắt vốn ngoài Nhà nước

Quốc hội thông qua kế hoạch đầu tư công 8,22 triệu tỷ đồng, nhấn mạnh vai trò dẫn dắt vốn ngoài Nhà nước

Sáng 24/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030 với tỷ lệ tán thành rất cao (482/484 đại biểu, đạt 99,58%).
Kéo dài ưu đãi thuế xe điện đến 2030: Tạo “khoảng đệm” thúc đẩy chuyển đổi xanh

Kéo dài ưu đãi thuế xe điện đến 2030: Tạo “khoảng đệm” thúc đẩy chuyển đổi xanh

Sáng 24/4, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, trong đó đáng chú ý là việc kéo dài chính sách ưu đãi thuế xe ô tô điện chạy pin đến hết năm 2030.
Chính thức bỏ ngưỡng “cứng” 500 triệu đồng/năm doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh

Chính thức bỏ ngưỡng “cứng” 500 triệu đồng/năm doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh

Quốc hội vừa đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế quan trọng, chính thức bỏ quy định mức doanh thu chịu thuế 500 triệu đồng/năm đối với hộ, cá nhân kinh doanh. Thay vào đó, thẩm quyền xác định ngưỡng này được giao cho Chính phủ Việt Nam, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
Sẽ thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ, 10 địa phương từ 1/10/2026

Sẽ thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ, 10 địa phương từ 1/10/2026

Sáng 24/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Việt Nam khóa XVI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công với 467/484 đại biểu tán thành (chiếm 96,8%). Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/10/2026 và được triển khai thí điểm đến hết ngày 30/9/2028.
Quốc hội thông qua Nghị quyết phát triển văn hóa - xung lực mới cho động lực nội sinh quốc gia

Quốc hội thông qua Nghị quyết phát triển văn hóa - xung lực mới cho động lực nội sinh quốc gia

Sáng 24/4, Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu, đạt 95,4%), thể hiện quyết tâm chính trị trong việc hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực cho lĩnh vực được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội.
Tranh luận ngưỡng doanh thu chịu thuế: Quốc hội đề nghị “giữ quyền” bằng khung luật

Tranh luận ngưỡng doanh thu chịu thuế: Quốc hội đề nghị “giữ quyền” bằng khung luật

Tranh luận tại Quốc hội Việt Nam ngày 23/4 tập trung vào việc xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh, trong đó nhiều ý kiến đề nghị luật cần quy định khung cụ thể để vừa bảo đảm tính linh hoạt điều hành, vừa giữ vững thẩm quyền lập pháp trong lĩnh vực thuế.
Quốc hội thông qua Luật Thủ đô 2026, trao cơ chế đặc thù cho Hà Nội

Quốc hội thông qua Luật Thủ đô 2026, trao cơ chế đặc thù cho Hà Nội

Với tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối, Luật Thủ đô 2026 chính thức được thông qua, tạo hành lang pháp lý mới để Hà Nội chủ động hơn trong quản lý, phát triển và triển khai các dự án lớn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát chặt giá cả, không để tăng giá bất hợp lý theo chi phí

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát chặt giá cả, không để tăng giá bất hợp lý theo chi phí

Trước áp lực “nhập khẩu lạm phát” từ bên ngoài, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các bộ, ngành chủ động điều hành giá, tăng cường giám sát thị trường và không để doanh nghiệp lợi dụng biến động chi phí để tăng giá không hợp lý.
Quốc hội bàn ưu đãi xe điện: Không thể thiếu cơ chế thu hồi pin thải

Quốc hội bàn ưu đãi xe điện: Không thể thiếu cơ chế thu hồi pin thải

Bên cạnh đề xuất kéo dài ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô điện chạy pin đến hết năm 2030, tại kì hợp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng chính sách hỗ trợ thị trường chỉ thực sự bền vững khi đi kèm trách nhiệm thu hồi, tái chế pin sau sử dụng. Đây được xem là mắt xích quan trọng để tránh nguy cơ ô nhiễm mới, đồng thời hoàn thiện hệ sinh thái giao thông xanh tại Việt Nam.
Cần hình thành doanh nghiệp “xương sống” để tạo trụ đỡ tăng trưởng bền vững

Cần hình thành doanh nghiệp “xương sống” để tạo trụ đỡ tăng trưởng bền vững

Để duy trì mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn, nền kinh tế Việt Nam cần sớm hình thành doanh nghiệp đủ lớn, đủ năng lực công nghệ và sức cạnh tranh quốc tế đóng vai trò “xương sống”, theo ý kiến của đại biểu Đỗ Chí Nghĩa tại phiên thảo luận tị Quốc hội sâng 23/4.
Vay vàng trong dân: Cảnh báo rủi ro “vàng hóa” và nguy cơ bất ổn thị trường

Vay vàng trong dân: Cảnh báo rủi ro “vàng hóa” và nguy cơ bất ổn thị trường

Đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng trong dân do Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đưa ra đang gây nhiều tranh luận, song đa số ý kiến chuyên gia đều bày tỏ quan ngại về rủi ro hệ thống và khả năng tái diễn tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế nếu cơ chế này được triển khai.