Thứ tư 04/11/2026 11:51
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Tạo thuận lợi cho DN trong xác định xuất xứ hàng hóa xuất, nhập khẩu

12/10/2020 00:00
Thông tư số 38/2018/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và áp dụng ưu đãi thuế quan theo đ

Ảnh minh họa

Thông tư số 38/2018/TT-BTC là một văn bản quy phạm pháp luật quan trọng quy định cụ thể, thống nhất, minh bạch về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Lần đầu tiên đối với lĩnh vực xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có một đầu mối văn bản riêng giúp hải quan và doanh nghiệp thuận tiện trong việc thực hiện và tra cứu.

Việc ban hành Thông tư giúp minh bạch hóa trong việc thực hiện xác định xuất xứ hàng hóa: Thông tư đã quy định cụ thể hồ sơ xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; các trường hợp phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, các trường hợp không phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, các chừng từ phải nộp khác để chứng minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu...

Một số nội dung quan trọng

Thông tư 38 quy định cụ thể hồ sơ xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 3). Theo đó, hồ sơ xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm:

a) Đơn đề nghị xác định trước xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo các chỉ tiêu thông tin tại mẫu số 01/CT/XĐTXX/GSQL Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 38/2018/TT-BTC;

b) Bản kê nguyên liệu, vật tư dùng để sản xuất hàng hoá gồm các thông tin: tên hàng, mã số hàng hóa, xuất xứ nguyên liệu, vật tư cấu thành sản phẩm, giá CIF hoặc giá tương đương của nguyên liệu, vật tư do nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu cung cấp: 01 bản chụp;

c) Bản mô tả sơ bộ quy trình sản xuất hàng hoá hoặc Giấy chứng nhận phân tích thành phần do nhà sản xuất cung cấp: 01 bản chụp;

d) Catalogue hoặc hình ảnh hàng hóa: 01 bản chụp.

Thủ tục xác định trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện theo quy định tại Điều 28 Luật Hải quan, Điều 24 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và khoản 11 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định cụ thể các trường hợp phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Điều 4):

a) Hàng hoá có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi thuế quan trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi thuế quan trong quan hệ thương mại với Việt Nam.

b) Hàng hoá thuộc diện phải tuân thủ các chế độ quản lý nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc theo Điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên mà Việt Nam và nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ cùng là thành viên; hàng hóa đang được thông báo nghi ngờ nhập khẩu từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ trong danh sách bị cấm vận theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

c) Hàng hoá thuộc diện Việt Nam hoặc các tổ chức quốc tế thông báo đang ở trong thời điểm có nguy cơ gây hại đến an toàn xã hội, sức khoẻ của cộng đồng hoặc vệ sinh môi trường cần được kiểm soát.

d) Hàng hoá thuộc diện Việt Nam thông báo đang ở trong thời điểm áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, các biện pháp tự vệ, biện pháp hạn ngạch thuế quan, biện pháp hạn chế số lượng, để xác định hàng hóa không thuộc diện áp dụng các thuế này.

Xử lý các trường hợp không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Thông tư 38 quy định cụ thể việc xử lý các trường hợp không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Điều 4) như sau: Đối với hàng hóa nhập khẩu áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt nếu người khai hải quan không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa thì hàng hóa áp dụng thuế suất ưu đãi (MFN) hoặc thông thường.

Đối với hàng hóa phải nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ tại thời điểm làm thủ tục hải quan mà người khai hải quan không nộp thì hàng hóa không được thông quan và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trường hợp hàng hóa quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư số 38/2018/TT-BTC, người khai hải quan không nộp được chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhưng hàng hóa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam kết luận hàng hóa đủ điều kiện nhập khẩu hoặc cho phép nhập khẩu theo pháp luật chuyên ngành thì cơ quan hải quan thực hiện thông quan theo quy định.

Đối với hàng hóa áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp hoặc thuế tự vệ hoặc thuế suất ngoài hạn ngạch thuế quan nếu người khai hải quan không nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa thì hàng hóa áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp hoặc thuế tự vệ hoặc thuế suất ngoài hạn ngạch thuế quan đối với toàn bộ lô hàng và được thông quan theo quy định.

Thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa

Thông tư quy định cụ thể thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Điều 7): Đối với trường hợp người khai hải quan có chứng từ chứng nhận xuất xứ tại thời điểm làm thủ tục hải quan: nộp tại thời điểm làm thủ tục hải quan.

Đối với trường hợp người khai hải quan chưa có chứng từ tại thời điểm làm thủ tục hải quan: được chậm nộp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan, trừ 02 trường hợp ngoại lệ: (1) đối với C/O mẫu EAV nộp tại thời điểm làm thủ tục hải quan, (2) đối với C/O mẫu KV (VK) trường hợp chưa có chứng từ chứng nhận xuất xứ tại thời điểm làm thủ tục hải quan thì nộp trong thời hạn 01 năm.

Đồng thời, Thông tư cũng quy định cụ thể việc trừ lùi C/O đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài đưa vào kho ngoại quan để nhập khẩu nhiều lần vào nội địa (Điều 23).

Theo đó, trường hợp một lô hàng đưa từ nước ngoài vào kho ngoại quan để nhập khẩu vào nội địa nhiều lần thì được sử dụng C/O để lập Phiếu theo dõi trừ lùi cho từng lần nhập khẩu vào nội địa và được áp dụng trừ lùi tại nhiều Chi cục Hải quan khác nhau.

Quy định này tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ kho ngoại quan vào nội địa.

Khánh Linh/Chinhphu.vn

Tin bài khác
Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Từ hành vi thông đồng, dìm giá đến tình trạng trả giá cao rồi bỏ cọc, những bất cập trong hoạt động đấu giá tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát ngay từ khâu đăng ký đến khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên thảo luận ngày 3/11, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ trách nhiệm của đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá và tăng cường công cụ nhận diện vi phạm, trong khi cơ quan soạn thảo đề xuất nâng tiền đặt trước, bổ sung chế tài cấm tham gia đấu giá.
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 được đặt ra cùng yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Tại Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48) ở Singapore, Việt Nam đề xuất ba định hướng ưu tiên nhằm củng cố an ninh lương thực, thúc đẩy nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và đẩy nhanh chuyển đổi số, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp khu vực.