Thứ sáu 31/07/2026 00:50
Hotline: 024.355.63.010
Kinh doanh

Tác động của quản trị ảnh hưởng tới kết quả M&A

09/11/2021 15:53
Phương thức quản lý của một công ty ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình sáp nhập và mua lại? Để trả lời cho câu hỏi này, một nghiên cứu gần đây đã sử dụng dữ liệu từ cuộc Điều tra dân số Hoa Kỳ nhằm xác định mức độ áp dụng các phương thức quản lý có

Phương pháp quản trị tác động lớn đến kết quả M&A
Phương pháp quản trị tác động lớn đến kết quả M&A. (Ảnh: internet)

Nghiên cứu ghi nhận, sau khi bị mua lại, các công ty mục tiêu có xu hướng áp dụng phương thức quản lý có cấu trúc giống như đối thủ đã từng làm trước đây. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng phương pháp quản lý có cấu trúc tương quan với hiệu suất thành công mạnh mẽ và cho rằng, đầu tư vào phương pháp này mang đến hiệu quả chiến lược cho bất kỳ công ty mong muốn cải thiện kết quả kinh doanh.

Thông thường, nhiều nhà quản trị nhầm lẫn quản lý tốt nghĩa là hoạt động kinh doanh tốt, nhưng trên thực tế, định lượng tác động của thực tiễn quản lý đối với các kết quả kinh doanh như M&A và hiệu quả tài chính không dễ dàng như vậy.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ Khảo sát về Thực tiễn Tổ chức và Quản lý năm 2010 của Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ (ấn bản gần nhất có sẵn với thời điểm thực hiện) để tìm ra giải pháp. Cuộc khảo sát đã định lượng các phương pháp quản lý tại hơn 35.000 nhà máy sản xuất của Hoa Kỳ, cung cấp mức độ hiển thị về hoạt động bên trong của các công ty. Mặc dù quản lý vốn là công việc mang tính chủ quan và khó đo lường nhưng khảo sát đã áp dụng một bộ các câu hỏi nghiêm ngặt nhằm xác định cấu trúc thực tiễn quản lý của công ty, xem xét mức độ theo dõi hiệu suất của nhân viên một cách nhất quán, sử dụng dữ liệu để cải thiện thực tiễn, cách đặt mục tiêu sản xuất và liệu

các nhà quản lý có đang sử dụng các hệ thống khuyến khích tiêu chuẩn hóa hay không. Ví dụ, các câu hỏi khảo sát bao gồm:

• Có bao nhiêu chỉ số hiệu suất chính (KPI) được theo dõi tại cơ sở này?

• Điều gì mô tả chính xác nhất khung thời gian của các mục tiêu sản xuất tại cơ sở?

• Thưởng hiệu suất của cấp dưới quản lý dựa vào những yếu tố nào?

Nhìn chung, nghiên cứu đã xác định các phương thức quản lý có cấu trúc mang đặc điểm cụ thể hơn, rõ ràng hơn so với cách làm thông thường. Các nhà khoa học chuyển đổi các câu trả lời trắc nghiệm định tính thành các giá trị số từ 0 đến 1 để phản ánh mức độ trả lời. Ví dụ: Trả lời cho câu hỏi “Điều gì mô tả chính xác nhất hoạt động đang diễn ra tại nhà máy khi có vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất”:

i) Không có hành động nào xảy ra

ii) Vấn đề đã được khắc phục nhưng không có thêm hành động nào khác sau đó

iii) Vấn đề đã được khắc phục và đã có biện pháp đảm bảo sự việc không tái diễn

iv) Vấn đề đã được khắc phục, đã có biện pháp đảm bảo sự việc không tái diễn và thực hiện quá trình cải tiến liên tục để dự đoán tình huống

Trong ví dụ này, các phản hồi (i) đến (iv) nhận được các giá trị tương ứng là 0, 1/3, 2/3 và 1, như vậy nghiên cứu xác định điểm số cho hiệu suất của từng nhà máy trong mỗi câu hỏi khảo sát, sau đó lấy trung bình để tính điểm quản lý tổng thể.

Tiếp theo, nghiên cứu sử dụng Cơ sở dữ liệu kinh doanh theo chiều dọc của Điều tra dân số Hoa Kỳ nhằm theo dõi các hoạt động sáp nhập, mua lại và chuyển nhượng một phần quyền sở hữu (khi một công ty chỉ mua một tập hợp con các nhà máy của mục tiêu). Cơ sở dữ liệu này cũng bao gồm thông tin về doanh số bán hàng, số lượng nhân viên và tài sản tại mỗi nhà máy, cho phép đo lường hiệu suất và năng suất cấp nhà máy với mức độ chi tiết hơn so với các chỉ số truyền thống như giá cổ phiếu hoặc lợi nhuận ròng. Bên cạnh đó, số liệu khác được xem xét bao gồm "giá trị gia tăng được chuẩn hóa", nghĩa là, giá trị của các lô hàng xuất đi của một nhà máy trừ đi chi phí lao động và nguyên vật liệu, tương tự như các phép đo lợi nhuận truyền thống.

Kết quả thu được như sau: Thứ nhất, ngay cả sau khi kiểm soát năng suất, các công ty có điểm quản lý cao hơn một độ lệch chuẩn có khả năng trở thành bên mua lại cao hơn 7,5%, trong khi các nhà máy có điểm quản lý thấp hơn một độ lệch chuẩn có khả năng trở thành mục tiêu của một vụ mua lại cao hơn 2,8%. Nói cách khác, các công ty thực hành quản lý cấu trúc có nhiều khả năng mua lại các công ty có thực hành quản lý ít cấu trúc hơn.

Các nhà khoa học cũng quan sát thấy “hiệu ứng lan tỏa”, nghĩa là sau khi các công ty có phương thức quản lý có cấu trúc hơn mua lại các nhà máy có phương thức quản lý kém, thì các nhà máy mục tiêu bắt đầu áp dụng các phương thức quản lý tương tự. Cụ thể, điểm số quản lý của các nhà máy đã tăng trung bình 26% sau khi được mua lại. Hơn nữa, tác động này đúng đối với cả điểm số quản lý tổng thể và điểm số trong các loại thực hành quản lý riêng lẻ như giám sát KPI, thiết lập mục tiêu và thực hành khuyến khích.

Thứ hai, phân tích cho thấy rằng khi một nhà máy mục tiêu được mua lại và bắt đầu áp dụng các phương thức quản lý có cấu trúc hơn, chỉ số năng suất, hiệu suất, giá trị gia tăng cũng được cải thiện theo đó. Ví dụ, đối với các nhà máy có điểm quản lý tăng một độ lệch chuẩn sau khi mua lại, năng suất tăng thêm 3,3%, trong khi giá trị gia tăng trên mỗi nhân viên, giá trị gia tăng trên mỗi giờ công nhân và tỷ suất lợi nhuận tăng thêm 3,13%, 4,19% và 1,16%.

Chắc chắn rằng quá trình mua lại và sáp nhập luôn tồn tại những thách thức. Trong bối cảnh các nền văn hóa và chuẩn mực khác biệt, cấu trúc và giá trị được thiết kế lại nhưng những phát hiện của nghiên cứu trên nhấn mạnh tiềm năng to lớn của hiệu ứng lan tỏa trong quản lý để gia tăng giá trị và cải thiện thực tiễn tại công ty mục tiêu. Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra ngay cả khi không có sự hợp nhất để thúc đẩy cải tiến, việc phát triển các phương thức quản lý có cấu trúc hơn có thể giúp bất kỳ công ty nào gia tăng giá trị và cải thiện kết quả kinh doanh thông qua nhiều thước đo thành công khác nhau.

Đức Minh

Tin bài khác
Doanh nghiệp cần được trang bị kỹ năng để tham gia sâu chuỗi cung ứng toàn cầu

Doanh nghiệp cần được trang bị kỹ năng để tham gia sâu chuỗi cung ứng toàn cầu

Trước những hạn chế trong hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam cần được tăng cường trang bị kỹ năng tham gia hội chợ, kết nối đối tác và chăm sóc khách hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông chủ trẻ người Đức chia sẻ cách đạt tiêu chuẩn EU Bio và Naturland Fair của trang trại hữu cơ

Ông chủ trẻ người Đức chia sẻ cách đạt tiêu chuẩn EU Bio và Naturland Fair của trang trại hữu cơ

Ông chủ trẻ Trang trại biểu mẫu về nông nghiệp sinh học tại Đức đến Việt Nam để chia sẻ cách đạt tiêu chuẩn hữu cơ của Liên minh Châu Âu (EU Bio) lẫn bộ quy chuẩn khắt khe của Naturland Fair.
Chuẩn hóa vận hành - chìa khóa nâng chất lượng dịch vụ

Chuẩn hóa vận hành - chìa khóa nâng chất lượng dịch vụ

Trong ngành dịch vụ, chất lượng không đến từ những khoảnh khắc xuất sắc mà từ khả năng duy trì trải nghiệm đồng nhất mỗi ngày. Đằng sau đó là hệ thống tiêu chuẩn, quy trình và dữ liệu được xây dựng bài bản, tạo nền tảng cho năng lực vận hành và lợi thế cạnh tranh bền vững.
Ba "nút thắt" mới đang bào mòn lợi thế xuất khẩu của Việt Nam

Ba "nút thắt" mới đang bào mòn lợi thế xuất khẩu của Việt Nam

Trong khi xuất khẩu tiếp tục được kỳ vọng là động lực tăng trưởng của nền kinh tế, nhiều hiệp hội doanh nghiệp cho rằng hàng Việt đang đối mặt những rào cản mới khó xử lý hơn trước. Không chỉ là thuế quan hay chi phí logistics, áp lực phòng vệ thương mại, thiếu lao động và khoảng trống dữ liệu thị trường đang trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Luật Thương mại điện tử mở ra "luật chơi" mới: KOL, KOC và người bán hàng online không thể bán hàng theo cảm tính

Luật Thương mại điện tử mở ra "luật chơi" mới: KOL, KOC và người bán hàng online không thể bán hàng theo cảm tính

Từ việc công khai thông tin người bán, siết trách nhiệm của KOL, KOC, livestream bán hàng, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân và nghĩa vụ thuế, Luật Thương mại điện tử cùng các quy định liên quan đang tạo ra một "luật chơi" mới trên môi trường số. Theo các chuyên gia, đây không phải là rào cản mà là bước hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm xây dựng hệ sinh thái thương mại điện tử minh bạch, công bằng và phát triển bền vững.
Chuyên gia marketing Hermawan Kartajaya nói gì về cơ hội của F&B Việt?

Chuyên gia marketing Hermawan Kartajaya nói gì về cơ hội của F&B Việt?

Chuyên gia marketing Hermawan Kartajaya nhận định F&B Việt có nhiều cơ hội chinh phục thị trường quốc tế, đặc biệt tại Indonesia. Theo ông, chìa khóa thành công không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm mà còn ở khả năng xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện văn hóa và ứng dụng tư duy Marketing 7.0.
Xây thương hiệu để bán giá trị, không bán giá rẻ

Xây thương hiệu để bán giá trị, không bán giá rẻ

Trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không còn đến từ quy mô hay giá bán thấp mà nằm ở khả năng tạo dựng thương hiệu, xây dựng hệ sinh thái khách hàng và mang lại giá trị khác biệt.
Marketing AI mở lối tăng trưởng từ dữ liệu khách hàng

Marketing AI mở lối tăng trưởng từ dữ liệu khách hàng

Marketing AI mở ra giai đoạn mới khi doanh nghiệp cạnh tranh bằng khả năng thấu hiểu khách hàng thay vì chỉ tăng ngân sách quảng cáo. Tại Diễn đàn "The Future of Business – Thương hiệu, Đổi mới sáng tạo và Tăng trưởng trong Kỷ nguyên Số" ngày 22/7/2026, các chuyên gia khẳng định AI chỉ tạo lợi thế khi gắn với chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và nâng cao trải nghiệm khách hàng.
KPMG Australia “đổi tướng” sau khủng hoảng kiểm toán

KPMG Australia “đổi tướng” sau khủng hoảng kiểm toán

Việc bổ nhiệm ông John Sams vào ghế Tổng giám đốc điều hành được kỳ vọng giúp KPMG Australia ổn định bộ máy và khôi phục niềm tin, trong bối cảnh bê bối rò rỉ thông tin mật tiếp tục gây sức ép lên hãng kiểm toán này.
Từ phòng thí nghiệm đến thị trường: Bài toán khó của những sáng chế "Made in Vietnam"

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường: Bài toán khó của những sáng chế "Made in Vietnam"

Không ít công trình nghiên cứu khoa học tại Việt Nam được đánh giá có giá trị chuyên môn, nhưng lại gặp khó khăn trên con đường bước ra thị trường. Khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và đời sống vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hành trình nghiên cứu thiết bị bảo vệ mạch điện tích hợp hệ thống đa tầng chống hồ quang điện của GS.TS. Trần Văn Tín và các cộng sự là một ví dụ cho thấy, để một sáng chế tạo ra giá trị xã hội, cần nhiều hơn một kết quả nghiên cứu thành công.
Meta bị kiện vì cáo buộc dùng AI để chọn nhân viên sa thải

Meta bị kiện vì cáo buộc dùng AI để chọn nhân viên sa thải

Meta đang đối mặt với vụ kiện từ 26 nhân viên, cáo buộc công ty sử dụng AI để đánh giá và lựa chọn nhân sự trong đợt sa thải hồi đầu năm, khiến nhiều người đang nghỉ phép hợp pháp bị đối xử bất công.
Đầu tư cho lớp lãnh đạo kế cận trong chiến lược quốc tế hóa

Đầu tư cho lớp lãnh đạo kế cận trong chiến lược quốc tế hóa

Trong nhiều tập đoàn lớn trên thế giới, quy hoạch lãnh đạo được xem là một cấu phần của chiến lược tăng trưởng. Tại Việt Nam, xu hướng này đang dần hình thành khi các doanh nghiệp chuẩn bị nguồn lực cho giai đoạn quốc tế hóa.
BIM và bài toán nâng năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng trong kỷ nguyên số

BIM và bài toán nâng năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng trong kỷ nguyên số

Việc triển khai Mô hình thông tin công trình (BIM) không chỉ thực hiện lộ trình chuyển đổi số theo quy định của Chính phủ mà còn mở ra cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh, tối ưu chi phí và hiện đại hóa quản trị cho ngành xây dựng.
131 năm Swarovski, câu chuyện về một viên pha lê muốn thay thế kim cương

131 năm Swarovski, câu chuyện về một viên pha lê muốn thay thế kim cương

Năm 1895, khi Daniel Swarovski cùng hai người bạn là Franz Weis và Armand Kosmann thành lập công ty tại thị trấn Wattens của nước Áo, với cái tên ban đầu khá dài dòng là A Kosman Daniel Swarovski và Co, mang logo hình bông hoa Edelweiss, loài quốc hoa của nước Áo. Người đàn ông này sinh ra và lớn lên tại Bohemia thuộc Cộng hoà Séc, cái nôi sản xuất thủy tinh của châu Âu, cha của ông sở hữu một nhà máy sản xuất thủy tinh nhỏ, khi lớn lên cậu bé Daniel Swarovski học nghề trong công xưởng của gia đình.
Ford Motor 123 năm: Không phát minh ra ô tô nhưng thay đổi cách cả thế giới di chuyển

Ford Motor 123 năm: Không phát minh ra ô tô nhưng thay đổi cách cả thế giới di chuyển

Năm 1903, Henry Ford không phải người đầu tiên chế tạo ô tô. Karl Benz đã làm điều đó từ năm 1885. Daimler, Peugeot và nhiều tên tuổi châu Âu khác đã đi trước ông cả thập kỷ. Nhưng Henry Ford đã làm một thứ mà không ai trong số đó làm được, đó là phát minh ra hệ thống sản xuất khiến ô tô trở thành thứ mà người bình thường có thể mua được.