![]() |
| Ảnh minh họa: AI. |
Thanh khoản căng thẳng: Vốn huy động được cho vay hết
Theo báo cáo Chiến lược thị trường 2026 của CTCP Chứng khoán SSI (SSI), tính đến giữa tháng 5/2026, tổng tiền gửi toàn hệ thống vượt 17 triệu tỷ đồng, tăng gần 3% so với đầu năm, nhưng vẫn chậm hơn tốc độ tăng tín dụng. Theo đó, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của toàn hệ thống tiếp tục duy trì trên 100%, cho thấy trạng thái thanh khoản vẫn ở mức tương đối căng thẳng.
Để hỗ trợ thanh khoản trong các quý tới, cần 04 yếu tố chính:
Dòng tiền quay lại hệ thống: Một lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng có thể dần quay trở lại, trong đó các điều chỉnh về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh đóng vai trò hỗ trợ.
Nguồn thu từ xuất khẩu: Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại lên tới 13,8 tỷ USD, phản ánh dòng ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu chưa trở lại đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng tiền gửi doanh nghiệp. SSI kỳ vọng xu hướng này sẽ cải thiện dần từ cuối quý 3/2026, khi hoạt động xuất khẩu có thể phục hồi theo yếu tố mùa vụ và từng bước chuyển hóa thành tích lũy tiền gửi bằng VND.
Dòng vốn FDI: Khi lãi suất tiền gửi VND ở mức 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so với lãi suất cơ bản của Fed ở mức 3,50– 3,75%/năm, doanh nghiệp FDI có thể có thêm động lực cơ cấu lại nguồn vốn, chuyển một phần USD sang VND và gửi tại thị trường trong nước.
Giải ngân đầu tư công: Khi dòng vốn giải ngân luân chuyển qua các nhà thầu và doanh nghiệp, và quay trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, thanh khoản toàn hệ thống có thể được cải thiện đáng kể. Quy mô kế hoạch giải ngân đầu tư công năm nay khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương gần 6% tổng tiền gửi ngân hàng.
![]() |
| Khoảng thiếu hụt nguồn vốn tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi. |
Nhằm bù đắp nguồn vốn thiếu hụt trong nước, SSI cho rằng các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và gia tăng vay vốn nước ngoài.
Lĩnh vực xây dựng, hạ tầng sẽ được “bơm” vốn
Định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 tiếp tục được duy trì quanh mức 15%. Đến cuối tháng 5/2026, tín dụng toàn hệ thống tăng 5,71% so với đầu năm, tương đương 19% so với cùng kỳ, đạt 19,6 triệu tỷ đồng.
| Hạn mức tín dụng vẫn là công cụ điều hành chính sách trọng yếu của Ngân hàng Nhà nước. Đối với các ngân hàng bị ràng buộc bởi hạn mức tín dụng, sẽ có xu hướng đẩy nhanh giải ngân từ đầu năm nhằm tối ưu thu nhập lãi thuần thông qua dư nợ bình quân cao hơn, thay vì dồn tăng trưởng về cuối năm. Trong thời gian còn lại của năm, nhóm này cũng có thể gia tăng hoạt động bán nợ cho các ngân hàng có vị thế thuận lợi hơn, qua đó chuyển một phần dư địa bảng cân đối thành thu nhập phí. |
Từ nay đến cuối năm, tín dụng sẽ tiếp tục được bơm vào các lĩnh vực sau:
Cho vay xây dựng và hạ tầng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ đạo, bao gồm các dự án BT, công trình dân dụng và triển khai dự án bất động sản. Phân khúc này tăng 47% so với cùng kỳ trong quý 1/2026 và đà tăng vẫn có thể duy trì trong các quý tới.
![]() |
| Dư nợ cho vay xây dựng và chủ đầu tư tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi. Nguồn: NHNN, SSI Research. |
Nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá phù hợp và nhà ở cho thuê đang nhận được mức độ ưu tiên cao hơn từ cơ quan quản lý.
Cho vay chủ đầu tư dự án thương mại đang có xu hướng tập trung vào nhóm ngân hàng còn dư địa hạn mức tín dụng và có lợi thế huy động tốt hơn.
Cho vay mua nhà nhiều khả năng chỉ phục hồi rõ hơn khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt. Theo quan điểm của SSI, đây có thể là câu chuyện của năm 2027 hơn là của năm nay.
NIM tiếp tục thu hẹp
Thanh khoản hệ thống có cải thiện hay không tùy thuộc vào việc giải ngân đầu tư công. Điều này cũng sẽ tác động tới việc lãi suất huy động có thể giảm dần về cuối năm hay không.
Xét trên toàn ngành, xu hướng NIM nhiều khả năng vẫn sẽ thu hẹp. Cụ thể, những ngân hàng sở hữu nền tảng CASA vững chắc và cơ cấu nguồn vốn đa dạng sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn. Các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào chứng chỉ tiền gửi và tiền gửi kỳ hạn với lãi suất cao, đồng thời có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tiệm cận ngưỡng quy định 30% của NHNN sẽ tiếp tục đối mặt với áp lực lớn.
![]() |
| Nguồn: Các ngân hàng, SSI Research |
Đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, dự báo ghi nhận NIM giảm khoảng 10 điểm cơ bản, khi chi phí vốn tiếp tục tăng nhanh hơn tốc độ phục hồi của lợi suất tài sản sinh lãi.
Đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, kỳ vọng có thể phục hồi NIM khoảng 8 điểm cơ bản nhờ cơ cấu nguồn vốn ổn định hơn và chi phí vốn thấp hơn. VCB và CTG tiếp tục là hai ngân hàng có khả năng chống chịu rõ nét nhất trong bối cảnh này.
Nợ xấu sẽ tiếp tục gia tăng trong nửa cuối năm 2026
Theo dự báo của SSI, cuối năm 2026, tỷ lệ nợ xấu (NPL) sẽ ở mức 1,8% (so với 1,76% cuối năm 2025), dư nợ nhóm 2 ở mức 1,4% (tăng 20 điểm cơ bản), tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm về khoảng 85%, trong khi chi phí tín dụng đi ngang.
Các yếu tố làm gia tăng nợ xấu:
Rủi ro đến từ lãi suất thả nổi của các khoản vay mua nhà (điểm rơi rủi ro trong quý 3). Các khoản vay được giải ngân trong giai đoạn 2023–2024 với mức lãi suất trong thời gian ân hạn 2-3 năm sẽ chuyển sang giai đoạn thả nổi với lãi suất cao. Nếu lãi suất tiền gửi duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến, tốc độ hình thành nợ xấu trong phân khúc này có thể tăng nhanh trong quý 3-4.
Rủi ro tái cấp vốn của các chủ đầu tư bất động sản cần phải được theo dõi kĩ từ nửa cuối năm 2026 trở đi. Dư nợ cho vay đối với chủ đầu tư đã tăng ròng thêm khoảng 01 triệu tỷ đồng kể từ cuối năm 2023. Với kỳ hạn vay phổ biến 2-3 năm, nhu cầu tái cấp vốn sẽ gia tăng rõ rệt từ cuối năm 2026.
![]() |
| Nguồn: Tổng hợp SSI Research |
Bên cạnh đó, trái phiếu doanh nghiệp (không tính trái phiếu ngân hàng) dự báo cũng sẽ đáo hạn khoảng 76.000 tỷ đồng trong nửa cuối năm 2026 và 108.000 tỷ đồng trong năm 2027.
Điều chỉnh quy hoạch tổng thể Hà Nội (yếu tố theo dõi trung hạn). Quá trình tái cấu trúc các khu vực phát triển đô thị tại Hà Nội có thể ảnh hưởng đến giá trị tài sản bảo đảm bằng bất động sản đang thế chấp tại ngân hàng. Vấn đề này đòi hỏi các ngân hàng chủ động đánh giá lại tài sản bảo đảm và duy trì kỷ luật trích lập dự phòng.
Về dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng, SSI điều chỉnh quý 2/2026 lên mức 17,6%, tăng nhẹ so với mức 17% trước đây, nhưng cả năm vẫn giữ nguyên, do chi phí vốn và áp lực lên NIM vẫn còn và gia tăng.
| Khả năng toàn ngành được nâng mặt bằng định giá là không lớn khi NIM vẫn chịu áp lực thu hẹp và chất lượng tài sản có xu hướng suy yếu dần. Vì vậy, hiệu quả đầu tư sẽ phụ thuộc chủ yếu vào khả năng lựa chọn cổ phiếu. |