Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 ở Lào Cai, bà Nguyễn Thị Khuyên, Giám đốc Công ty TNHH Nasaki Việt Nam, đồng thời là người nghiên cứu về quốc tế học, đưa ra cách tiếp cận đáng chú ý: nhìn văn hóa như một loại tài sản vô hình có thể đầu tư, quản trị và tạo giá trị.
Đề xuất này chạm đúng một bài toán không riêng của Lào Cai. Nhiều địa phương sở hữu kho tàng văn hóa phong phú nhưng phần lớn giá trị vẫn nằm trong không gian lễ hội, trưng bày hoặc hoạt động bảo tồn. Khoảng cách từ một di sản đến sản phẩm được thị trường đón nhận còn khá xa.
“Đừng chỉ xem văn hóa Lào Cai là thứ cần được bảo tồn. Hãy xem văn hóa là một loại tài sản vô hình cần được đầu tư, quản trị và tạo giá trị”, bà Khuyên nêu quan điểm.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Khuyên, Giám đốc Công ty TNHH Nasaki Việt Nam chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 |
Lào Cai có 33 cộng đồng dân tộc cùng hệ thống phong tục, ngôn ngữ, lễ hội, nghề thủ công, kiến trúc, ẩm thực và tri thức bản địa đa dạng. Đây là nguồn tài nguyên khác biệt, được hình thành và trao truyền qua nhiều thế hệ, không thể tạo dựng trong một thời gian ngắn.
Giá trị của nguồn tài nguyên ấy không chỉ nằm ở yếu tố lịch sử hay bản sắc. Khi được khai thác phù hợp, một hoa văn truyền thống có thể bước vào ngành thiết kế; một món ăn bản địa có thể trở thành sản phẩm du lịch; một câu chuyện dân gian có thể phát triển thành phim, âm nhạc, trò chơi hoặc trải nghiệm số.
Điểm khó là ranh giới giữa bảo tồn và thương mại hóa rất mong manh. Nếu chỉ giữ văn hóa trong kho lưu trữ, nhiều giá trị có nguy cơ xa dần đời sống. Nhưng nếu khai thác thiếu kiểm soát, sản phẩm có thể mất tính nguyên bản, thậm chí làm mờ vai trò của cộng đồng chủ thể.
Theo bà Khuyên, hướng tiếp cận phù hợp là giữ phần cốt lõi, đổi mới cách thể hiện và đưa những giá trị có khả năng phát triển vào chuỗi sản phẩm. Văn hóa khi đó không còn là lớp trang trí cho du lịch mà trở thành nguyên liệu đầu vào của kinh tế sáng tạo.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Khuyên đề xuất lập "Ngân hàng tài sản văn hóa số Lào Cai” tại Diễn đàn |
Một trong những đề xuất đáng chú ý là xây dựng “Bản đồ ADN văn hóa Lào Cai”. Điểm mới của ý tưởng này nằm ở việc chuyển từ thống kê sang nhận diện giá trị.
Thay vì chỉ trả lời tỉnh có bao nhiêu lễ hội, nghệ nhân hoặc nghề truyền thống, bản đồ cần chỉ ra giá trị nào làm nên sự khác biệt của từng cộng đồng; nội dung nào phải được bảo vệ nghiêm ngặt; giá trị nào có thể phát triển thành sản phẩm và đưa ra thị trường.
Mỗi tài sản văn hóa được nhìn dưới ba lớp: giá trị văn hóa, giá trị thương hiệu và khả năng tạo giá trị kinh tế. Cách phân loại này có thể giúp hạn chế tình trạng khai thác dàn trải hoặc địa phương nào cũng phát triển những sản phẩm tương tự nhau.
Song song với bản đồ nhận diện, bà Khuyên đề xuất hình thành “Ngân hàng tài sản văn hóa số Lào Cai”, tập hợp dữ liệu về nghệ nhân, ngôn ngữ, dân ca, dân vũ, nghề thủ công, kiến trúc, ẩm thực và tri thức bản địa.
Giá trị của ngân hàng này sẽ phụ thuộc vào khả năng kết nối với đời sống. Nếu dữ liệu chỉ được số hóa để lưu trữ, hiệu quả mới dừng ở bảo tồn. Khi được chuẩn hóa và xác lập cơ chế khai thác phù hợp, dữ liệu có thể trở thành nguồn học liệu, nguyên liệu thiết kế, nội dung du lịch, thương mại điện tử và sản phẩm ứng dụng AI, AR, VR.
Trong chuỗi giá trị văn hóa, doanh nghiệp thường được nhìn nhận như nhà tài trợ cho lễ hội hoặc hoạt động bảo tồn. Cách nhìn này chưa phản ánh hết vai trò của khu vực tư nhân.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Khuyên giới thiệu các sản phẩm của Nasaki Việt Nam với các đại biểu tham dự Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 |
Doanh nghiệp có khả năng nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu, tổ chức phân phối và đưa sản phẩm tiếp cận khách hàng. Một doanh nghiệp du lịch có thể phát triển hành trình từ câu chuyện dân gian; doanh nghiệp thiết kế có thể ứng dụng hoa văn bản địa; doanh nghiệp công nghệ có thể kể lại di sản bằng không gian thực tế ảo.
Tuy nhiên, để tránh việc doanh nghiệp đứng ngoài cộng đồng rồi tự diễn giải văn hóa, mô hình hợp tác cần bảo đảm người dân giữ vai trò chủ thể. Doanh thu từ sản phẩm cũng cần có phần quay trở lại cộng đồng, nghệ nhân và hoạt động trao truyền di sản.
Bà Khuyên đề xuất lựa chọn từ 3–5 tài sản văn hóa để thí điểm. Mỗi tài sản có doanh nghiệp đồng hành, nhóm chuyên gia và cộng đồng sở hữu cùng tham gia. Mỗi chương trình hướng tới ít nhất một sản phẩm thương mại trong các lĩnh vực du lịch, thời trang, thủ công, ẩm thực, phim, âm nhạc hoặc trải nghiệm số.
Cách làm thí điểm cho phép đo lường khá rõ số sản phẩm hình thành, doanh nghiệp tham gia, doanh thu, việc làm, thu nhập trở lại cộng đồng và mức độ nhận diện thương hiệu Lào Cai. Đây là những chỉ số cụ thể hơn so với việc chỉ đếm số lễ hội được tổ chức hoặc số di sản đã lập hồ sơ.
Mô hình được nữ doanh nhân khái quát bằng sáu yếu tố: Nhà nước kiến tạo, nhà khoa học dẫn đường, doanh nghiệp đầu tư, cộng đồng làm chủ, công nghệ làm nền tảng và thị trường tạo giá trị.
Khi sáu mắt xích vận hành đồng bộ, văn hóa có thể bước vào một vòng tuần hoàn mới: được nhận diện, số hóa, xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm, tiếp cận thị trường, tạo doanh thu rồi tái đầu tư cho cộng đồng.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Khuyên (người đứng thứ 7 bên trái hàng đầu tiền) cùng các đại biểu tham dự Diễn đàn chụp ảnh lưu niệm |
Lợi thế cạnh tranh dài hạn của Lào Cai vì thế không chỉ nằm ở vị trí địa lý, tài nguyên hay hạ tầng. Những yếu tố này có thể được đầu tư ở nhiều địa phương. Trong khi đó, ký ức cộng đồng, tri thức bản địa và những câu chuyện văn hóa được gìn giữ đúng cách là tài sản rất khó sao chép.
Như bà Nguyễn Thị Khuyên nhận định: “Lào Cai không cần lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển. Lào Cai cần biến bảo tồn thành nền tảng của phát triển”.