Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay duy trì ổn định. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo thơm của Việt Nam đã tăng lên mức cao nhất trong gần 4 tháng.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 15/4/2026: Giá gạo thơm xuất khẩu của Việt Nam bật tăng mạnh |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu CL 555 vẫn giữ ở mức 8.100 – 8.200 đồng/k, gạo nguyên liệu OM 5451 trong khoảng 8.650 – 8.750 đồng/kg; gao OM 18 giữ ở mức 8.900 – 9.100 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 504 dao động từ 8.000 – 8.100 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 15/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 15/4/2026 |
Phân khúc nếp tiếp tục đi ngang. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 15/4/2026 |
Giá các loại phụ phẩm không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm IR 504 hiện ở mức 7.600 - 7.750 đồng/kg; giá cám ở mức 6.850 – 7.000 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa đang bước vào giai đoạn cuối vụ nên lượng hàng không còn dồi dào, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện ở mức 5.800 - 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) đạt mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg; lúa OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg;…
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 15/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam tăng nhẹ 5 USD/tấn so với ngày hôm trước, lên mức 460 – 465 USD/tấn. Bên cạnh đó, gạo Jasmine tăng 2 USD/tấn, đạt 454 – 458 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng thường 5% tấm dao động trong khoảng 372 – 376 USD/tấn.
Ngược lại, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan giảm 2 USD/tấn, xuống còn 378 – 382 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm vẫn ổn định quanh mức 336 – 340 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm có giá từ 346 – 350 USD/tấn. Tương tự, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng không đổi ở mức 349 - 353 USD/tấn.
Giá gạo thơm xuất khẩu của Việt Nam đang bước vào nhịp tăng đáng chú ý, phản ánh rõ áp lực nguồn cung và chi phí trong bối cảnh thị trường quốc tế có nhiều biến động. Theo dữ liệu từ S&P Global Platts, giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam đã lên 436 USD/tấn (FOB) tính đến ngày 6/4, tăng 1,4% so với ngày trước đó và tăng 6,6% so với một tháng trước, đồng thời tiệm cận mức đỉnh 440 USD/tấn ghi nhận hồi giữa tháng 12.
Động lực chính đến từ nhu cầu ổn định của Philippines – thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam – khi nước này mở hạn ngạch nhập khẩu 600.000 tấn cho tháng 5 và 6. Trong hai tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu 711.264 tấn gạo sang thị trường này, tăng 30% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nghịch lý đang xuất hiện khi nhiều doanh nghiệp xuất khẩu chưa sẵn sàng chào giá mới, do phải ưu tiên giao các hợp đồng đã ký từ tháng 2–3 với mức giá thấp, thậm chí không có lãi.
Áp lực chi phí đang là yếu tố chi phối thị trường. Chi phí sản xuất, đóng gói và logistics tăng khoảng 10% so với tháng 3, trong bối cảnh giá năng lượng leo thang liên quan đến căng thẳng Trung Đông. Điều này khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp, buộc doanh nghiệp phải thận trọng trong ký kết đơn hàng mới.
Trong ngắn hạn, giá gạo được dự báo tiếp tục xu hướng tăng khi nguồn cung bước vào giai đoạn chuyển tiếp giữa vụ Đông Xuân (kết thúc cuối tháng 5) và vụ Hè Thu (bắt đầu từ tháng 6). Một số ý kiến thị trường cho rằng giá gạo DT8 có thể lên khoảng 470 USD/tấn vào tháng 5 nếu chi phí đầu vào chưa hạ nhiệt.
Dù vậy, triển vọng dài hạn vẫn chịu sức ép khi S&P Global Energy CERA dự báo xuất khẩu gạo của Việt Nam niên vụ 2025–2026 đạt 7,6 triệu tấn, giảm 5,7%, trong khi sản lượng cũng giảm 2,8%. Điều này cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn cân bằng lại cung – cầu, với biến số chi phí đóng vai trò then chốt.